Loading...

PARI (Trích “Những bức thư gửi cô em họ” do tác giả dịch từ tiếng An ?)

PARI

(Trích “Những bức thư gửi cô em họ”
do tác giả dịch từ tiếng An ?)

Ồ Pari23 có một vùng, cô em họ thân mến của tôi ạ, tự một mình nó nó trình diễn ra được đủ bộ mặt và đủ tâm lý của cả Pari, cả nưốc Pháp, cả vũ trụ. Ai muốn nghiên cứu tình hình xã hội thời buổi ta ngày nay, thì chỉ cứ đi ngang vùng này mà thôi là đáng giá cả một pho sách lốn cỡ bách khoa toàn thư vậy.

Vùng gồm ba xóm chính, là Etoan, Batinhon, Epinét. Cô vốn có trí tưởng tượng phong phú, nên tôi chắc thế, chỉ cần đọc tên mấy xóm đó là cô đã đoán ra được thứ bậc xã hội của những nhóm này rồi. Tôi ồ đây như đang nghe thấy cô tự thì thầm vối mình: Epinét, Êpinét – Những cái Gai con\ cuộc sống ồ đây hẳn phải chật vật lắm, gai góc lắm. Còn Êtoan – Ngôi sao, cái đó hẳn phải là nơi cư ngụ của những kẻ diễm phúc, có đặc quyền đặc lợi; một Bồng Lai tiên cảnh chứ gì nữa.

Vâng, cô em họ nhỏ của tôi ơi, cô đoán đã gần gần đúng thế đấy, ấy nhưng tôi vẫn cứ phải tả cho cô thấy cái sang trọng của bên này và cái đau khố của phía kia, sang trọng ra sao, đau khố ra sao thì cái đầu óc xinh xắn của cô chẳng thấy nổi nó mênh mang đến thê nào đâu. Xóm Êtoan thì bắt đầu vối Khải hoàn môn. Ây là một đài kỷ niệm nguy nga dựng lên đê ghi nhố tài danh quân phiệt của [1]

Napôlêông. Bây giò thì nó dùng làm mồ chôn một người lính không tên tuổi chết trong đại chiến.

Sự đòi sao nó mỉa mai thế, cô nhỉ! Người ta đem thu lại để cùng một chỗ cả cái hư vinh của tác giả bao cuộc giết chóc kinh khủng ở châu Au và cả nắm di hài của nạn nhân cuộc tàn sát thế giối!

Cái đài này là nơi lưu tồn tượng trưng nhũng nguyên nhân của mọi cuộc chiến tranh trưốc kia và sau này; cũng như ngưòi lính không tên tuổi này là hiện thân tượng trưng của tất cả nhũng ai bị giết hại đế thoả mãn cái tham vọng và cái kiêu kỳ của bọn tưống lãnh. Bởi vì ai mà đã đọc tên nhũng chiến trận đầy tràn lịch sử từ đầu đến cuốĩ, ai mà đã đọc bấy nhiêu tên khắc lên riêng một đài kỷ niệm này thó1, thì phải kinh hoàng thấy, biết bao nhiêu là nông dân, bao nhiêu là công nhân đáng thương đã ngã xuống không tên tuổi, như kẻ đang nằm đây!

Để một chuyên thư sau, tôi sẽ kể cho cô nghe về anh lính tội nghiệp này, khi còn sống đã phải đương đầu vối những tràng súng đại bác hên thanh như thê nào, nay vẫn phải đương đầu như thế nào vối những tràng diễn văn ngoại giao và tỏ tình thân thiết vờ vịt của các vị sứ thần và của các cụ Phị[2] [3]. Hôm nay, hãy trồ lại câu chuyện vùng này đã.

Vậy, tôi đang nói vối cô rằng Êtoan là xóm các phủ đệ thênh thang, các vườn cây hoa nồ sum suê, các cỗ ngựa xe vương giả. Đó là một ổ xa hoa, tứ xứ, thừa thãi tràn trề và biếng lưòi loè loẹt. Đó là thiên đường bọn ăn bám đủ các cõ và đủ các xứ. Sang trọng là sang trọng cho đến cả con vật. Chả nói làm gì đến cái giá ngông cuồng thả ra bao một con mèo hảo hạng hay một con ngựa loại khoái[4], nó đủ để nuôi sông toàn bộ dân cư một tỉnh nưốc ta, cứ cái con khuyên xóm này là cũng được sống lộng lẫy và tốn kém hơn người đi làm thợ nhiều.

Ròi chính lộ Vagơram và đại lộ Cuốcxen, là vào xóm Batinhon. Xóm này là xóm kiêu con dơi, nghĩa là dân bản địa nơi này thuộc một giai cấp trung gian. Họ không giàu sụ đê bay nhảy như bọn cừ khôi trong giối tư bản, mà cũng chang đủ nghèo để phải vất vả giống đám thợ thuyền. Phong vũ biếu đo mức giàu có của họ cứ là theo sự thăng trầm kinh tê hằng ngày mà lên xuống; họ có thể hôm nay thì thư thái trồng bắp cải, đê rồi hôm sau là phải bán đứt vườn tược đi. Dân đây là tiếu thương, là ông xếp phòng giấy, là ông cò về hưu. Bà đi đâu là có một con ) to quấn quanh cố và một con chó con bồng trên tay. Ông thì bao giờ cũng có cái gì chếnh mảng cài khuyết ve áo, một củ kiệu Công huân Nông nghiệp hoặc là bông hoa tím của vị chức sắc Học chính[5] [6]. Bà canh cửa thì sáng sáng chăm chút tưối nhũng chậu hoa thu hải đường cố truyền của bà bày trên cửa sổ, sáng sáng giũ cái thảm trải cầu thang chính – tấm thảm này bưống bỉnh nhất định không chịu leo cao hơn tầng gác ba[7]. Cứ suy quy luật vận hành của vạn vật thì dân cư xóm này có nhiều khả năng vô sản hoá hơn là sản sinh ra những đức ngài tư bản chủ nghĩa.

Xóm Êpinét là phía chân của cái thang. Nó là ngưòi bà con khôn khó, kẻ thừa kế bị gạt bỏ của hai xóm kia. Nó gần như là thuộc một giống người khác, ra vẻ bẽn lẽn, khiêm nhưòng, bị cái khôn cùng nó đè bẹp. Này cô, hãy xem ông bác mình ép mía lấy đường theo cái kiêu nghìn năm xưa cũ của dân ta, thì cô nghĩ ra được cái cảnh xã hội ồ đây nó thế nào. Có bao nhiêu nưốc ép ngon ngọt thì cứ tuôn cả ra một bên cối, còn bên kia thì chỉ có bã, bẹt ra, quắt lại. Đây cũng thế. Một bên là giàu sang và nhàn rỗi, một bên là cần cù và thiếu thốn. Lôi thôi và gầy guộc như ngón tay khoằm khoằm của con mụ phù thuỷ già, ống lò sưồi ồ Êpinét mùa hè thì um khói và mùa đông thì lại như tắt ngấm. Trông xa, nhà cửa khắng khiu trong xóm giông y mặt ngưòi vậy, những bộ mặt ngưòi ngơ ngác mà cái bề mặt tiệm của một bác buôn giẻ rách hay của một hiệu thịt ưốp lạnh thì làm ra dáng cái miệng móm, còn cửa sổ đã toác toạc thì dùng làm những con mắt nhẻm những dử lại cận thị. Xóm những con người làm lụng, sản xuất và đói meo. Xóm người làm thợ, xóm người nghèo, xóm ngưòi cùng khôn.

Giữa xóm, có một mẩu phô dài chừng dăm chục mét. Quanh phô thấy tề tựu một ngôi trưòng tiểu học, một nhà máy và một quán cháo bình dân. Có phải thê không nào, cô em họ thân mến, cả cái bộ sậu ấy thế là rất mực tiêu biếu? Khi còn bé, thì trẻ con đi học để mà biết tôn trọng quyền thiêng liêng của các ông chủ. Lốn lên, anh thợ ròi nhà trường đi góp phần làm giàu cho giối chủ nhân ông mà mình đã được học tập sùng bái cái uy nghi. Già rồi yếu đỉ, thì ông lão được, vẫn giối chủ nhân ông đó, mà cụ đã làm giàu cho, tông cụ ra ngoài đường đế nhò chẩn bần mà sống nốt cuộc đòi hay lam hay làm của mình!

Mỗi sáng, tôi phải đi ngang quán cháo bình dân đế đến xưồng làm việc của tôi. Tròi đẹp hay xấu, nắng ấm hay tuyết rơi, thì tôi cũng cứ thấy tụm lại trưốc cửa ngôi nhà công này lốĩ ba chục các cụ. Các cụ ăn bận thật không tưởng tượng được. Người thì khoác cái chăn trên lưng, người thì lại mặc cái áo dài bó của hầu bàn trưởng – đầu đội cái mũ rơm đã vàng úa, người khác nữa tả tơi đụp vá muôn màu sắc. Giày các cụ, mõm há ra như hộp thư cả, cười nhạo vối mọi khách qua đưòng. Trong lúc đợi cửa mở và đế giết thời giò, các cụ xem mấy mẩu báo Le Matin24 hay tò Le Petit Parisien25 nhặt được chẳng biết ở đâu nữa. Tròi có lạnh quá thì các cụ thổi thổi lên ngón tay hoặc là giở điệu nhất bộ ra nhả1 để tự sưởi ấm. Một cụ nhìn tôi cả cười: “Chú xem, sưởi kiêu trung tấm2của bọn này đấy!”.

Dáng các cụ tồi tàn thế, nhưng ai nấy đều thật dễ thương, và các cụ trông thấy tôi mãi rồi, thì cuốĩ cùng ấy cũng là có quen biết. Một thứ tình bằng hữu thê là nảy ra giữa chúng tôi và hai bên chào nhau khi đi qua.

Tôi đặc biệt đế ý một cụ già trong sô” đó. Ông cụ sạch sẽ, tươm tất, và bộ dạng biểu lộ một nỗi buồn phiền được nén xuống, một niềm tự trọng chang chịu đế ngã khuỵu, ngay trong cơn quẫn bách. Cụ có đeo một dải huy chương thưởng công cứu nạn. Cụ bao giờ cũng cứ đứng đằng sau người khác.

Một hôm, tôi đến bắt tay cụ và nói vối cụ: “Cô” ơi, cô” có vui lòng cho phép được mời cùng dùng một bữa lót dạ, chủ nhật tới, được không?”. Cụ đáp: “Ông tử tê quá, thưa ông, thê cho nên tôi từ chốỉ thì hoá ra phụ lòng tôt của ông, vậy xin nhận”.

Chúng tôi cùng đến một quán ăn nhỏ. Đặt xong món ăn, chúng tôi chuyện trò, và ông cụ bảo tôi: “Tôi không dám tự tiện ngỏ lòi trưốc vối ông, bồi vì trưốc hết ông là ngưòi nưốc ngoài, thê rồi tôi lại ngại làm phật lòng ông, thanh niên dễ tự ái thấy có ngưòi đến bắt chuyện lại như tôi, một lão già nghèo khổ, chẳng khác đứa ăn mày vậy. Nhưng mà cứ mỗi lần ông di qua trưốc mặt tôi, là lòng tôi lại tràn ngập một niềm đau đốn khôn cùng, tôi chỉ muôn khóc. Tôi rất hiểu ông lấy thê” làm lạ, nhưng ấy là tại thê này: thấy ông, là tôi lại nhố thằng con thứ của tôi, tôi đã mất nó trong trận giặc. Nó cũng [8] [9] khoảng tuổi ông đấy. Chắc ông hăm nhăm, hăm sáu chứ gì? – Hăm sáu, cố ạ, tôi trả lòi. – Đúng rồi, nó kém ông một tuổi. Ông không chán tai thì để tôi kể chuyện nó ông nghe, chuyện nó mà thật ra là chuyện tôi. – Xin mòi cố, nghe chuyện cô sẽ thích thú lắm. – Thòi tôi còn ít tuổi, ông bạn cùng bàn đáng kính của tôi kể, tôi làm nghề hàng hải đăng bạ0. Tôi đã có đi vòng quanh thê giối nhiều lần. Tôi cũng có lần đến xứ ông, đến Sài Gòn, đến Hải Phòng. Sau tôi tằn tiện cưối một cô gái nông thôn hiền lành. Vợ chồng đến lập nghiệp ồ vùng Bắc. Nhà tôi mồ một cửa hàng nhỏ bán gia vị vặt vãnh, còn tôi thì vào làm một nhà máy. Vợ chồng tôi có hai trai, một gái, ba cháu thật là của tròi cho ông ạ! Nhà tôi vối tôi, bọn tôi chịu khó kham khổ cũng nhiều, nuôi được các cháu ăn học, nó giỏi giang lắm. Bà con lối xóm đều lấy làm thèm thuồng, vì các cháu nết na, thật là ngoan ngoãn, chăm làm, lại có học. Cháu Môrixơ là cháu lốn, làm nghề thợ vẽ. Cháu Anbe thì làm thợ máy. Em gái các cháu, là cháu Yvon, nó là một bông hoa xinh xinh mười tám cái xuân xanh- như ở xứ tôi ngưòi ta hay nói văn hoa thê – hoa làm si ngây lứa trai khắp vùng, cháu nó đánh máy chữ. Mỗi đứa kiếm được đồng tiền cũng kha khá, đủ cho mình và cho vợ chồng chúng tôi. Ban ngày thì các cháu đi làm, tôi đến cả mấy cháu mải mê học hành. Chủ nhật nào cũng cả ngày bàn luận vối nhau những cái học được trong tuần. Nói thật tình để ông hay, cứ nghe các cháu nó bàn nó nói là sưống lạ sưống lùng; ấy chính các cháu đã dạy chúng tôi, mẹ các cháu vổi tôi, biết được không biết bao nhiêu thứ. Vậy là vợ chồng chúng tôi thật là đôi bô” mẹ sưống nhất trần đòi.

“Chiến tranh bùng nổ. Cháu Môrixơ bị thương nặng từ đầu, ít lâu sau thì chết. Cháu Anbe thì bị ghi là mất tích, sau ba tháng chiến trận. Cứ thế là nhà tôi và cháu gái hoá điên lên, điên vì đau [10] đốn. Làng tôi là cái đích cho pháo nã, đạn Pháp đến vối chúng tôi cũng nhiều ngang đạn Đức; đạn nó không có quốc tịch, nên đạn bên này hay bên kia thì cũng đều phá phách đồ đạc, cũng đều giết hại ngưòi ta, dửng dưng như nhau, tàn khốc như nhau.

“Một hôm nọ, trong gian nhà chúng tôi ồ đã đố vỡ đến nửa, vợ tôi cùng cháu gái tôi đang nấu nưống, thì một cái ) – chang phải loại nồi Na Uy nổi tiếng của Lui Phorextơ đâu, mà là cái loại nồi nó giập be giập bét tuốt – nó bổ xuôhg.

“Một tiếng nổ kinh hồn, rồi tất cả hất tung lên. Tôi thoát thân vì đang xuống tầng hầm lấy cái gì đó. Đến khi lại người, từ dưối hầm lên, thì lên hết cầu thang, tôi chang còn thấy nhà, thấy cửa, thấy vỢ, thấy con đâu cả nữa, mà chỉ thấy một khoảng trống không, một khoảng trông không khủng khiếp, hãi hùng, một khoảng trông không nó lấp đặc không trung bằng cái não nuột, cái tận cùng, cái chết chóc, cái tan hoang. Tôi quá sững sò đê còn hoảng hốt… Nhưng hãy chò đấy, đã hết đâu! Cái lúc ghê gốm nhất trong cả đòi tôi, là lúc mà tôi nhận ra trong đống nhà cửa vụn nát, một cái bàn tay máu me của cháu Yvon tội nghiệp của tôi, rồi cách mấy bưốc, là một cái chân còn giày tất y nguyên của người vợ đáng thương của tôi. Ay bấy giờ, ấy bấy giò…”.

Đến đây, ông già tái nhợt. Tôi đọc thấy trong đôi mắt cụ, bỗng dại đi, một nỗi niềm đau xót và căm hòn không sao tả xiết. Một cơn co giật làm cụ toàn thân run rẩy. Cụ tỳ hai bàn tay đang quắp lại lên mép bàn. Hai chân cụ di di đều nhịp, như phát sốt, trên sàn nhà, mà căng gân cốt ra như vậy, thì là khi nào con người ta đang cố kìm lại một niềm xúc động đang muốn bùng ra. Tôi nhỏ nhẹ bảo cụ: “Thôi vừa rồi, cố ơi! Xin đề hôm khác cố kề cho nghe. CỐ xơi củ khoai rán, cố nhé!”. Ông cụ như không nghe thấy tôi nói; cụ thồ dài một hơi, nói tiếp: “Đấy ông xem, ông thân mến, chiến tranh, cuộc chiến tranh trời tru đất diệt này tôi có cái gì thì nó đã giết sạch cả, [11] nào là hanh phuc, nào là nhà cûa, nào ngiïdi vd quÿ, nào bây con yêu. Côn tôi, thî bây gid tôi nhd thiên ha bô thi dê sôhg qua ngày, sau bây nhiêu nam trdi làm an, ciic nhoc. Biet dâu, vâng, biet dâu châng phâi chinh châu Anbe dâng thvfdng cua tôi là ngvfôi bây giô dây dang nam do dvfôi Khâi hoàn mon!”.

Cụ gat một giọt nước mắt thât to, tay run run nâng cái cốc mà tôi vừa rót rượu vào, miêng nói: “Nào, chúc sức khỏe ông!”.

Bâo L’Humanité, ngày 30 và 31-5-1922.

 

[1] Thực ra, đây là văn phẩm do Nguyễn Ái Quốc sáng tác.

[2]  Khải hoàn môn Êtoan có khắc đầy vào đá tên các chiến trận và các tướng lĩnh thời Napôlêông.

[3]  Fatty: Từ lóng để chỉ bọn tai to mặt lổn. Gốc tiếng Anh có nghĩa là người béo.

[4]   Nói chuyện nuôi đĩ điếm.

[5]  Zibeline: Giống chồn Bắc cực, tức một loại thú lông dài và mượt, mình dài, đuôi dài nên đã được xử lý giữ nguyên lông dùng làm khăn quàng cô phụ nữ sang trọng.

[6]  Những loại huân chương, huy chương của Pháp; mỗi loại có hình dáng, màu sắc riêng.

[7]   Nhà ỏ Pari thường từ năm đến tám tầng. Những hộ sang trọng nhất hay ỏ tầng gác cho đến gác ba. Gác cao hơn, thì những hộ gia tư tầm thường hơn ỏ.

[8]  One-step “Một bước”, tên một điệu vũ gốc Mỹ, nhanh và mạnh. Ở đây ý nói các cụ già khoa chân múa tay cho đõ rét.

[9]  Lôi sưởi sang, sưởi cả nhà nhưng chỉ đốt lò ỏ một nơi thôi, có ông dẫn hơi nước nóng đến từng phòng.

[10] Tức thuỷ thủ dân sự. Do yêu cầu của sự kiểm soát quốc gia và quốc tế, ngưòi đi biển phải theo luật hàng hải quốc tế, được đăng ký vào một danh bạ nhà nước. Có đăng bạ mổi là công nhân hàng hải chính thức.

[11] Từ lóng chỉ đạn pháo eõ lớn.

Loading...

Để lại một bình luận

Hãy trở thành người đầu tiên bình luận!

avatar
wpDiscuz
Bài liên quan
no img nhan thanh
CHỦ NGHĨA VIĐA” CÒN ĐANG TIẾP DIỄN
"CHỦ NGHĨA VIĐA"CÒN ĐANG TIẾP DIỄNHàng nghìn dân bản xứ bị cưỡng bức đẩy vào quân đội đê bảo vệ những két bạc cho những kẻ bóc lột mình.Chúng ta nhố rằng, để buộc những người châu Phi thực hiện ...
Chuyên mụcHồ Chí Minh toàn tập - tập 1 tái bản lần 2
no img nhan thanh
BÌNH ĐẲNG – HỒ CHÍ MINH TOÀN TÂP 1
BÌNH ĐẲNGĐể che đậy sự xấu xa của chế độ bóc lột giết người, chủ nghĩa tư bản thực dân luôn luôn điểm trang cho cái huy chương mục nát của nó bằng những châm ngôn lý tưỏng: Bác ái, ...
Chuyên mụcHồ Chí Minh toàn tập - tập 1 tái bản lần 2
no img nhan thanh
PHONG TRÀO CỘNG SẢN QUỐC TẾ ĐÔNG DƯƠNG
PHONG TRAO CỌNG SẢN QUỐC TẾ ĐÔNG DƯƠNGChế độ cộng sản có áp dụng được ồ châu Á nói chung và ồ Đông Dương nói riêng không? Đấy là vấn đề mà chúng ta đang quan tâm hiện nay.Muốn hiểu ...
Chuyên mụcHồ Chí Minh toàn tập - tập 1 tái bản lần 2
no img nhan thanh
LỜI PHÁT BIÊU TẠI ĐẠI HỘI TOÀN QUỐC LẦN THỨ XVIII ĐẢNG XÃ HỘI PHÁP 10
LỜI PHÁT BIÊU TẠI ĐẠI HỘI TOÀN Quốc LẦN THỨ XVIII ĐẢNG XÃ HỘI PHÁP 10Chủ ): Đông Dương có ý kiến. (Vỗ tay). Đai biểu Đông Dương : Thưa các đồng chí, lẽ ra hôm nay, tôi đến đây ...
Chuyên mụcHồ Chí Minh toàn tập - tập 1 tái bản lần 2
no img nhan thanh
LỜI KÊU GỌI CỦA BAN NGHIÊN CỨU THUỘC ĐỊA CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN PHÁP
LỜI KÊU GỌI CỦA BAN NGHIÊN CỨU THUỘC ĐỊA CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN PHÁPChúng tôi hiểu nỗi đau khổ của các bạn, nhưng các bạn chưa hiểu nỗi đau khổ của chúng tôi. Có lẽ các bạn cho rằng tất cả ...
Chuyên mụcHồ Chí Minh toàn tập - tập 1 tái bản lần 2
no img nhan thanh
PARI (Trích “Những bức thư gửi cô em họ” do tác giả dịch từ tiếng An ?)
PARI(Trích "Những bức thư gửi cô em họ" do tác giả dịch từ tiếng An ?)Ồ Pari23 có một vùng, cô em họ thân mến của tôi ạ, tự một mình nó nó trình diễn ra được đủ bộ mặt ...
Hồ Chí Minh toàn tập - tập 1 tái bản lần 2
Sách và tư liệu
Đề thử đại học môn toán – THPT Hàn Thuyên Bắc Ninh lần 1
No img
Đề thi thử THPT Quốc Gia môn toán, có đáp án chi tiết đề thi mô tả chi tiết kiến ...
YÊU SÁCH CỦA NHÂN DÂN AN NAM
No img
YÊU SẢCH CUA NHẢN DẢN AN NAMTừ ngày Đồng minh thắng trận, tất cả các dân tộc bị lệ thuộc ...
Đáp án đề thi môn Hóa 2013 BGD
Đáp án đề thi môn Hóa 2013 BGD
Cần trợ giúp hãy kết bạn cùng facebook – nhanthanhcs1@gmail.com
Chủ nghĩa đế quốc Pháp dám làm những gì?
No img
CHỦ NGHĨA ĐÊ QUỐC PHÁP DÁM LÀM NHỮNG GÌ?Những người Ấn Độ, vì chỉ phạm có mỗi một cái tội ...
UNIT 2-TEST 2 – Tiếng anh lớp 11 – Tài liệu cô CẨM NHUNG
UNIT 2-TEST 2 – Tiếng anh lớp 11 – Tài liệu cô CẨM NHUNG
 UNIT 2                                                TEST 2I.              PRONUNCIATIONChoose the word that has main stress placed differently from the others.1.     a. appreciate           ...