Tôn giáo

Tôn giáo 

Khái niệm:                                                                         

          Tùy theo từng góc tiếp cận mà người ta có thể định nghĩa tôn giáo khác nhau. Tồn tại như một thực thể khách quan của lịch sử; tôn giáo là do con người sáng tạo ra như định nghĩa của L. Phơbách trong cuốn sách Sự ra đời của Kitô giáo từ thế kỉ XVIII: “Con người được tư duy thế nào; được sắp đặt thế nào thì Chúa của họ cũng là thế. Ý thức về Chúa là ý thức mà con người rút ra từ bản thân nó.”

Quan niệm này của L. Phơbách được Các Mác thời trẻ rất ưa thích và ông đã làm rõ thêm bằng quan niệm: “Sự khổ ải tôn giáo vừa là sự biểu hiện sự khổ ải hiện thực; lại vừa là sự phản kháng lại sự khổ ải hiện thực đó. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức; là trái tim của thế giới không có trái tim; cũng giống như nó là tinh thần của trạng thái không có tinh thần. tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân. Tôn giáo là hạnh phúc hư ảo của nhân dân.”

            Như vậy trong mỗi tôn giáo; bao giờ cũng có hai yếu tố: cái trần tục và cái thiêng liêng; hay nói như Max Weber: Tôn giáo là một dạng của hoạt động cộng đồng gắn với cái siêu nhiên. Với hai yếu tố này; vai trò của tôn giáo trong xã hội qua các thời kì lịch sử khác nhau có khác nhau. Thái độ đối xử của giai cấp thống trị xã hội khác nhau với tôn giáo cũng khác nhau.

Dù vậy “một thực tế cho thấy; cho dù là thái độ; quan niệm; nội dung về tôn giáo luôn thay đổi và dù có thay đổi bao nhiêu đi nữa thì nó vẫn là một thực thể khách quan của lịch sử; sinh ra cùng với xã hội loài người; do con người sáng tạo ra; rồi con người lại bị chi phối bởi nó. Tôn giáo còn tồn tại lâu dài”. (Đặng Nghiêm Vạn; Điểm qua tình hình tôn giáo hiện nay).

Đảng  và Nhà nước ta luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên CNXH viết: “Tín ngưỡng; tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng. Chống mọi hành động vi phạm tự do; tín ngưỡng đồng thời chống việc lợi dụng tín ngưỡng làm tổn hại đến lợi ích Tổ quốc và nhân dân.”

Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1992; điều 70 viết: “Công dân Việt Nam có quyền tín ngưỡng tôn giáo; theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng hoặc lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước.”

           Trong lịch sử nhân loại; tôn giáo không chỉ có quan hệ mật thiết mà còn có tác động mạnh mẽ đến các thành tố khác của văn hóa.

           Ở Việt Nam; qua trường kì lịch sử từng tồn tại các tôn giáo có tính phổ quát như Nho giáo; Phật giáo; Hồi giáo; Kitô giáo và Đạo giáo; nhưng lại có những tôn giáo chỉ có tính chất địa phương như Cao Đài; Hòa Hảo.

 Tôn giáo và sự tiếp thu tôn giáo trong sự phát triển của văn hóa Việt Nam:

Nho giáo:

            Còn gọi là đạo Nho (phương ngữ Nam Bộ gọi là đạo Nhu) hay Khổng giáo. Về chữ Nho; ông Đào Duy Anh trong Hán Việt từ điển giải thích: “Nguyên nghĩa chữ Nho to lớn lắm; một bên chữ nhân là người; một bên chữ nhu là cần; nghĩa là các người trong đời cần phải có… Ngày nay; chữ Nho nghĩa là người học giả có đủ tri thức.”

            Nho giáo gắn liền với tên tuổi của những người sáng lập là Khổng Tử và các nhân vật kế tục như Mạnh Tử; Tuân Tử; Đổng Trọng Thư; Tư Mã Thiên; Trình Hạo; Trình Di…

            + Khổng Tử (551 – 479 TCN)

            Ông tên là Khâu; tự là Trọng Ni; người nước Lỗ (nay thuộc Duyện Châu- Sơn Đông- Trung Quốc). Ông làm quan với nước Lỗ được ba năm và 13 năm đi chu du các nước. Phần lớn cuộc đời Khổng Tử dành cho sự nghiệp dạy học.

Người ta truyền rằng học trò của Khổng Tử có 3000 người; trong số đó có 72 người được coi là người hiền (thất thập nhị hiền). Cùng với việc dạy học; Khổng Tử còn chỉnh lí các sách: Thi; Thư; Lễ; Dịch và Xuân Thu. Sau khi ông qua đời; học trò của ông ghi chép lại thành những lời nói và việc làm của ông cùng các môn đệ thành một tập sách gọi là Luận ngữ.

           + Mạnh Tử (372 – 289 TCN):

            Ông tên là Kha; người đất Châu (nay thuộc tỉnh Sơn Đông – Trung Quốc). Ông là học trò của Tử Tư (tức Khổng Cấp- cháu đích tôn của Khổng Tử). Ông muốn học để ra làm quan nhưng không được toại nguyện. Khi về già; cùng một số môn đệ thân tín; ông mở trường dạy học. Tất cả những cuộc đối thoại của ông và một số vua các nước chư hầu; các học trò gắn bó mật thiết được ghi lại thành sách gọi chung là Mạnh Tử.

            Khi nhìn Nho giáo cần thấy từ Khổng Tử cho đến các nhân vật kế tục và mãi cho đến sau này; Nho giáo đã thay đổi khá nhiều. Với Khổng Tử; ông rất quan tâm đến đạo đức; chủ trương dùng đạo đức để giữ gìn cho xã hội bình an. Khổng Tử đề cập đến nhiều mặt như nhân; lễ; nghĩa; trí; tín; dũng nhưng nhiều hơn cả là chữ nhân. Trong Luận ngữ có đến 60 lần Khổng Tử đề cập đến chữ nhân nhưng không có khi nào giống nhau. Mỗi lần; ông giải thích nội dung chữ nhân một cách khác nhau.

Khía cạnh thể hiện tập trung nhất của chữ nhân theo Khổng Tử là lòng thương người (ái nhân): điều mình không muốn thì không làm cho người khác; mình muốn lập thân thì cũng giúp cho người khác lập thân; mình muốn thành đạt thì cũng giúp người khác thành đạt.

           Trong quan niệm về thế giới; Khổng Tử có những mâu thuẫn nhất định. Thái độ của ông về trời; đất; quỷ; thần không nhất quán. Khi thì ông cho rằng trời đất không chi phối gì con người; khi thì ông cho ngược lại. Đáng lưu ý; ông cho rằng trời là lực lượng có thể chi phối con người. Theo ông “người quân tử phải sợ mệnh trời”. Nói khác đi; ông là nhà tư tưởng thuộc phái duy tâm khách quan.

           Từ quan niệm về thế giới đến quan niệm về đạo đức; Khổng Tử chủ trương “Cai trị dân mà dùng mệnh lệnh; đưa dân vào khuôn phép mà dùng hình phạt thì dân có thể tránh được tội lỗi nhưng không biết liêm sỉ. Cai trị dân mà dùng đạo đức; đưa dân vào khuôn phép mà dùng lễ thì dân sẽ biết liêm sỉ và thực lòng; quy phục…”. Trong việc chọn người cai trị dân; Khổng Tử chủ trương chính danh.

           Tư tưởng của Khổng Tử được Mạnh Tử kế thừa. Mạnh Tử có một lòng tin ở mệnh trời. Về đạo đức; Mạnh Tử đề cập đến tính thiện; một yếu tố mà ông cho là có sớm trong con người khi sinh  ra. Các khái niệm như nhân; lễ; nghĩa; trí; tín là sự thể hiện của tính thiện này. Về đường lối chính trị; Mạnh Tử tiếp nối chủ trương nhân chính của Khổng Tử; nhưng ông không chủ trương khôi phục trật tự xã hội thời Tây Chu mà chủ trương thống nhất. Đáng chú ý trong quan niệm chính trị của ông là thái độ trọng dân. Ông nói: Dân là quý; thứ đến là đất nước; vua thì coi thường (Nguyên văn: Dân vi quý; xã tắc thứ chi; quân vi khinh.)

           Các học giả đời sau đã kế tục và phát triển tư  tưởng của ông. Nhận xét của các tác giả bộ Lịch sử tư tưởng Việt Nam là đúng khi cho rằng: “Trải qua 25 thế kỉ phát triển; Nho giáo về sau đã khác nhiều so với lúc nó mới xuất hiện. Nhưng nó vẫn có một số nét chung. Trước hết đó không phải là một tôn giáo; càng không phải là một học thuyết triết học mà là một học thuyết chính trị – đạo đức của giai cấp phong kiến Trung Quốc.”

           Ở Trung Quốc; phải đến nhà Tiền Hán; Nho giáo mới có bước ngoặt phát triển; trở thành tư tưởng chính thống của nhà nước phong kiến.

           Ở Việt Nam; Nho giáo được truyền bá vào Giao Châu (tức phần đất Bắc Bộ hiện nay) từ rất sớm bởi những người Trung Quốc mà phần lớn là quan lại của chính quyền đô hộ; cho nên thái độ tiếp nhận của người Việt rất dè dặt. Vì thế; vị trí của Nho giáo trong xã hội vẫn rất khiêm tốn.

           Mặt khác; suốt thời Bắc thuộc; Nho giáo phát triển giữa hai xu hướng tâm lí xã hội. Người Hán thì muốn Hán hoá Giao Châu mà người Việt thì chống lại việc Hán hoá. Sau thời Bắc thuộc; dưới các triều đại Ngô; Đinh; Tiền; Lê; Nho giáo cũng chưa phát triển. Đến nhà Lý; dù vương triều này trọng dụng Phật giáo nhưng khi quản lí xã hội; giai cấp cầm quyền lại dựa vào Nho giáo. Chính nhà Lý lập Quốc Tử Giám; Văn Miếu; tổ chức thi cử theo nội dung Nho học. Tuy nhiên; Nho sĩ chưa thành một lực lượng xã hội lớn.

Dưới thời nhà Trần; Phật giáo càng tỏ rõ sự bất lực của mình; tầng lớp nho sĩ đông hơn khiến Nho giáo càng phát triển; có vị thế trong xã hội. Sau cuộc kháng chiến chống quân Minh; để bổ sung vào tầng lớp quan lại; nhà Lê tìm đến biện pháp quân công và thi cử. Từ năm 1442 trở đi; chế độ khoa cử ổn định; nho sĩ ngày càng đông lên trong xã hội. Nho giáo dần chiếm địa vị độc tôn; chi phối nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội. Thế kỉ XVI – XVII; Nho giáo vẫn là công cụ để giai cấp thống trị xây dựng chính quyền và quản lí trật tự xã hội. 

           Thế kỉ XVIII; Nho giáo bị suy thoái. Đến thời nhà Nguyễn Gia Long; Nho giáo lại có địa vị ưu thế trong đời sống xã hội. Sự tồn tại của Nho giáo bị ran vỡ khi tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp nổ ở Việt Nam; nhưng việc chấm dứt vai trò là chỗ dựa của vương triều phong kiến của Nho giáo phải đợi đến Cách mạng tháng Tám năm 1945.

           Là một thành tố của văn hoá Việt Nam; Nho giáo có một ảnh hưởng rất lớn đối với diện mạo cũng như nội dung các thành tố văn hoá khác. Với tư cách là một học thuyết chính trị; đạo đức; Nho giáo có vai trò như một tố chất trong nho sĩ. Tâm tư; tình cảm; tư tưởng và lối sống của nhà nho Việt Nam chịu ảnh hưởng của Nho giáo là lẽ đương nhiên.

Vốn dĩ là thành viên của những cộng đồng làng xã; nhà nho sống ở thôn quê; họ là một kiểu nhân vật văn hoá; vừa truyền bá những khía cạnh tư tưởng; đạo đức Nho giáo một cách chủ định và không chủ định thông qua việc dạy học và giao tiếp ở làng xã; vừa sáng tạo; lưu giữ văn hoá. Con đường đến với quảng đại người nông dân trong làng xã của Nho giáo; qua tầng lớp nho sĩ quả có hiệu lực.

           Đáng lưu ý nhất là tầng lớp trí thức trong xã hội từ thế kỉ XV trở về sau chính là các nhà nho. Do vậy; sáng tạo văn hoá của họ chứa tư tưởng Khổng Mạnh là lẽ tự nhiên. Từ Nguyễn Trãi đến Lê Thánh Tông; Từ Nguyễn Bỉnh Khiêm tới Lê Quý Đôn…. Trước tác của những nhân vật văn hoá tiêu biểu của đất nước thể hiện tư tưởng Nho giáo là điều không thể tránh khỏi. Suốt trong quá trình phát triển lịch sử phát triển ở Việt Nam; Nho giáo có “độ khúc xạ”- chữ dùng của PGS. Phan Ngọc – do điều kiện xã hội; lịch sử và con người Việt Nam có khác với những điều kiện này ở Trung Hoa. Do vậy; Nho giáo ở Việt Nam có những điều kiện khác so với Nho giáo ở Trung Quốc.

Những khái niệm nhân; nghĩa; lễ; trí; tín của nhà nho Việt Nam khác với chính các khái niệm ấy ở các nhà nho Trung Quốc. Chữ dân của Mạnh Tử cũng khác chữ dân của các nhà nho Việt Nam mà tiêu biểu là Nguyễn Trãi: “Ta gặp trong thực tế một thứ Nho giáo không thuần nhất; đã luôn luôn dung hợp với tư tưởng Âm Dương; Phật; Đạo; lại kết hợp với tín ngưỡng; tập quán; tư tưởng địa phương nên khi tác động đến từng mặt của đời sống ở Việt Nam  thì sắc thái Nho giáo của nó không nguyên vẹn mà đậm nhạt khác nhau.” (Trần Đình Hượu; Đến hiện đại từ truyền thống; Nxb Văn hoá; Hà Nội; 1995).

 Phật giáo:

           Người sáng tạo ra Phật giáo là Siddhartha Gautama. Ông sinh năm 563 TCN tại Kapilavastu. Là hoàng tử của nhà vua Satđôđana; nước Capilavatu (ngày nay là vùng đất bao gồm một phần miền Nam nước Nêpan và một phần các bang Utta Prađesơ và Biha của Ấn Độ). Năm 29 tuổi; Siđhartha bỏ cung điện; bỏ cuộc sống giàu sang và gia đình để đi tìm cho mình một con đường giải thoát. Năm 35 tuổi; Siđhartha nghĩ ra được một cách giải thoát. Từ đó; ông được gọi là Buddha (Butđa) nghĩa là giác ngộ; mà ta quen gọi là Phật (hay là Bụt). Về sau; các đệ tử tôn xưng ông là Sakia Muni (Thích ca Mâu ni). Quãng đời còn lại; Phật đi các nơi để truyền bá học thuyết của mình. Năm 80 tuổi; Phật qua đời.

           Học thuyết Phật giáo là chân lí về nỗi đau khổ và sự giải thoát con người khỏi nỗi đau khổ. Chân lí ấy được thể hiện ở Tứ diệu đế:

  • Khổ đế
  • Tập đế
  • Diệt đế
  • Đạo đế

         Nội dung cơ bản của học thuyết Phật giáo là thuyết thập nhị nhân duyên. Nhân là nguyên nhân gây ra sự vật. Duyên là những mối quan hệ; những điều kiện; những ảnh hưởng xung quanh giúp cho nhân phát khởi hành. Đạo Phật khái quát thành 12 nhân duyên. Đó là một chuỗi liên tục các nguyên nhân giam hãm con người trong vòng sinh tử luân hồi.

         Như vậy; đặc điểm của Phật giáo nguyên thuỷ là không chấp nhận thần linh; chủ trương vô thần nhưng là duy tâm chủ quan.

         Sau khi Phật tổ qua đời; Đại hội Phật giáo lần thứ nhất được triệu tập vào thế kỉ V TCN. Kinh điển của Phật giáo đã được biên soạn bao gồm hai nội dung chính là Pháp và Luật. Pháp là những lời thuyết giáo của Phật được chép lại theo kí ức của đệ tử. Luật là qui chế do đại hội thảo ra. Một trăm năm sau; Đại hội lần thứ hai được triệu tập. Số đông tín đồ đòi chữa lại luật; họ bị Đại hội trục xuất nên đã thành lập một phái riêng gọi là phái Đại chúng bộ.

Chính phái này là tiền thân của phái Đại thừa sau này. Đến thế kỉ III TCN; Đại hội lần thứ ba được triệu tập để chấn chỉnh tổ chức và giáo lí của mình. Thời kì này là thời kì phát triển nhất của đạo Phật ở Ấn Độ. Đến thế kỉ I sau công nguyên; Đại hội lần thứ IV được triệu tập. Đại hội này đã thông qua giáo lí của Phật giáo cải cách và được gọi là phái Đại thừa để phân biệt với phái Phật giáo cũ là phái Tiểu thừa. Sự khác nhau giữa hai phái được biểu hiện ở mấy mặt sau:

         Thứ nhất; phái Tiểu thừa cho rằng những người xuất gia đi tu mới được cứu vớt nhưng phái Đại thừa lại cho rằng không chỉ có người tu hành mà cả những người quy y theo Phật cũng được cứu vớt và ai cũng có thể thành Phật.

         Thứ hai; phái Tiểu thừa quan niệm Niết bàn là cảnh giới yên tĩnh; gắn với sự giác ngộ; tức là hư vô; trong khi phái Đại thừa quan niệm Niết bàn cũng như thiên đường; cũng là nơi cực lạc và đối lập với thiên đường là địa ngục.

         Đạo Phật được truyền sang châu Á bằng hai đường:

         – Đường bộ từ phía đông Ấn Độ lên phía Tây Bắc Ấn Độ vào Trung Á rồi vòng sang phía Đông ra Đông Á.

           – Đường biển đến Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo.

         Trong những di tích liên quan đến văn hoá Óc Eo; người ta đã thấy sự hiện diện của hai tôn giáo: Ấn Độ giáo và Phật giáo cùng tồn tại.

         Ở Chămpa; Phật giáo được định vị với ngôi chùa ở Đồng Dương (năm 875) thờ Laksmindralokeevara.

         Ở Giao Châu; vào thế kỉ II đã có sư tăng người Ấn Độ như Khương Cư và Trung Quốc như Ma Ha Kì Vực; Tăng Hội; Chi Cương Lương; Mâu Tử vào truyền đạo. Năm 580; thiền sư Tỳniđalưuchi lập Thiền phái đầu tiên. Năm 820; thiền sư Vô Ngôn Thông lập thiền phái thứ hai. Luy Lâu là một trung tâm Phật giáo lớn vào những thế kỉ đầu công nguyên. Nhiều cao tăng Trung Quốc trên đường sang Ấn Độ cầu kinh học đạo đều dừng lại ở Luy Lâu để học chữ Phạn và tiếp xúc với tăng sĩ Ấn Độ có mặt tại đó. Vào thế kỉ thứ X ở Đại Việt; thiền sư Ngô Chân Lưu được phong Khuông Việt đại sư.

Trong Phật giáo thời kì này đã xuất hiện những yếu tố Mật tông ở Hoa Lư. Trong thời Lý và thời Trần; Phật giáo hưng thịnh với các dòng thiền Thiền Tỳ ni đa lưu chi và Vô Thông Ngôn; đồng thời có một phái mới đó là dòng Thiền do thiền sư Thảo Đường lập ra và phái Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông lập ra. Sau một thời kì dài bị Nho giáo lấn át; từ giữa thế kỉ XVII; thiền phái Trúc Lâm được phục hưng ở Đàng Ngoài; thiền phái Lâm Tế và Tào Động phát triển ở Đàng Trong. Dưới triều Nguyễn; thời vua Minh Mạng (1820 – 1840); vua Thiệu Trị (1841 – 1847); Phật giáo được hưng khởi sau một thời kì bị buông rơi.

         Trên lát cắt đồng đại; Phật giáo ở Việt Nam tồn tại cả hai phái: Đại thừa và Tiểu thừa. Với người Khơme Nam Bộ; Phật giáo ở đây là phái Tiểu thừa. Trong khi đó; với người Việt; Phật giáo lại là Đại thừa.

         Là một tôn giáo có ảnh hưởng rất mạnh đến xã hội Việt Nam; Phật giáo với tư cách là một tôn giáo; một thành tố văn hoá có ảnh hưởng đậm nét đến các thành tố khác của văn hoá Việt Nam.

Đạo giáo:

         Cần phân biệt giữa Đạo giáo triết học và Đạo giáo tôn giáo. Là một học thuyết; Đạo giáo triết học (Đạo gia) tập trung vào hai khái niệm Đạo (tức là con đường) và vô vi (tức không hành động). Trong khi đó; các phái khác nhau của Đạo giáo tôn giáo đều đi tìm sự trường sinh bất tử.

– Lão Tử:

          Ông tên là Lý Nhĩ; theo Tư Mã Thiên trong Sử ký; Lão Tử người nước Sở; còn có tên là Đam. Cũng chính Tư Mã Thiên cho rằng Lão Tử từng làm thủ thư trong triều đình nhà Chu. Sau khi từ bỏ chức vụ trong triều; theo truyền thuyết Lão Tử đi sang phía Tây; tại đèo Tiên Cô theo yêu cầu của Doãn Hỉ. Người soạn 5000 chữ của Đạo Đức kinh (các nhà khoa học sau này đã nghiên cứu và đi tới kết luận rằng tác phẩm này không thể soạn trước thế kỉ IV hay III TCN).

Tác phẩm này của Lão Tử gồm 81 chương: 37 chương đầu là sách về đạo; 44 chương sau là sách về đức; sự phân chia này là do chương 1 bàn về đạo; chương 38 bàn về Đức. Trong Đạo giáo; nhân vật Lão Tử đã được nâng lên hàng thần linh và được tôn kính như Thái Thượng lão quân hay Đại đức Thiên Tôn.

– Trang Tử:

Ông là một nhà hiền triết; sinh khoảng 309; mất năm 286 TCN. Người ta chỉ biết ông là người gốc Hà Nam.; tác giả cuốn sách nhan đề Trang Tử (còn gọi là Nam hoa chân kinh). Tác phẩm này có 33 thiên; trong đó 7 thiên đầu gọi là nội thiên do Trang Tử soạn; 15 thiên kế tiếp là ngoại thiên; 11 thiên còn lại gọi là tập thiên có lẽ là tác phẩm của các môn đệ.

Đạo giáo có hai nhánh lớn: Truyền chân đạo và Thành nhất đạo. Người ta cho rằng Truyền chân đạo là do Vương Thuần Dương sáng lập. Trong Truyền chân đạo có sự tổng hợp của ba tôn giáo từng tồn tại ở Trung Quốc: Khổng giáo; Phật giáo và Đạo giáo.

Trong khi đó; Thành nhất đạo có nguồn gốc từ Ngũ đấu mễ đạo do Trương Đạo Lăng sáng lập từ năm 126 đến 144 đời Đông Hán. Phái này tồn tại ở Trung Quốc cho đến thế kỉ XV. Về sau; đạo này được sát nhập vào Thành nhất đạo. Khác với Truyền chân đạo; nghi thức của phái này đề cao vị thế của các phép phù thuỷ; niệm chú và các phương thuật.

Ở Việt Nam; ảnh hưởng của Đạo giáo triết học chủ yếu diễn ra trong tầng lớp nho sĩ nhưng ảnh hưởng của Đạo giáo không đậm nét. Sự đan xem giữa Đạo giáo phù thuỷ và các tín ngưỡng dân gian là phức tạp. Thời Bắc thuộc; theo các tác giả Lịch sử tư tưởng Việt Nam:

“Người Việt Nam lúc bấy giờ vẫn chịu ảnh hưởng của Đạo giáo phù thuỷ vì nó phù hợp với tín ngưỡng dân gian và nó bổ sung những tín hiệu cần thiết mà tín ngưỡng dân gian không có; vì đó là con đường hy vọng để khắc phục những khổ đau xã hội và bệnh tật của con người đương thời; trong hi vọng đó chỉ có tác dụng an ủi. Tin theo Đạo giáo thần tiên vì người Việt vốn có tinh thần lãng mạn; muốn có cuộc đời dài lâu; muốn có cuộc sống tốt đẹp.”

Vì thế; ảnh hưởng Đạo gia và Đạo giáo trong văn hoá Việt Nam không phải là nhỏ; nhất là các tín ngưỡng dân gian.

 Kitô giáo:

          Là tên gọi chung của các tôn giáo thờ chúa Giêsu; bao gồm đạo Công giáo    (với nghĩa là phổ quát); đạo Chính thống được tách ra từ thế kỉ XI; đạo Tin lành tách ra từ đạo Công giáo ở thế kỉ XVI và Anh giáo (chỉ có ở nước Anh và các thuộc địa của Anh). Ở Việt Nam; đạo Công giáo còn được gọi là Thiên Chúa giáo. Ra đời ở các tỉnh phía Đông của đế quốc La Mã cổ đại; nguồn gốc của Kitô giáo như F. Ăng ghen đã nhận xét:

“Nguồn gốc của Kitô giáo nguyên thuỷ là cuộc vận động của những người bị áp bức; đạo đó xuất hiện trước hết như một thứ tôn giáo của người nô lệ và bán tự do; của những người nghèo khổ và những người bị tước hết mọi quyền lợi; các dân tộc bị Rôma đô hộ hay làm tan tác”. Sự phát triển của đạo Kitô trong lịch sử nhân loại lúc thăng; lúc trầm và đến hiện nay; Kitô giáo là tôn giáo có mặt ở hầu khắp các nước của các châu lục chứ không riêng gì ở châu Âu.

          Giáo lí của Kitô giáo là Kinh thánh gồm hai bộ Cựu ướcTân ước. Bộ Cựu ước gồm 46 quyển có thể chia làm ba loại: loại sách lịch sử; loại sách văn thơ; loại sách tiên tri. Bộ Tân ước gồm 17 quyển kể về cuộc đời và sự nghiệp của Chúa Giêsu; hoạt động của các thánh tông đồ; có thể chia thành bốn loại: sách tin mừng; sách công cụ sứ đồ; sách thánh thư; sách Khải huyền.

          Quan niệm về thế giới của Kitô giáo là niềm tin vào Thiên chúa và sự mầu nhiệm của Thiên chúa tiền định. Vì thế; con người là do Thiên chúa sáng tạo; có nghĩa vụ thờ phụng chúa và tiếp tục công việc của chúa ở trái đất này. Tổ chức của Kitô giáo được chia thành: giáo xứ; giáo phận; giáo hội quốc gia và giáo triều Vatican; quyền lực tối cao và tuyệt đối thuộc về giáo hoàng. Giáo hoàng có thể triệu tập các dòng tu và một số tu sĩ cao cấp. Lịch sử giáo hội Công giáo đã trải qua 21 lần họp đại hội kiểu này mà người ta gọi là công đồng chung. Từ tháng 10- 1962 đến tháng 12- 1965; công đồng thứ 21 được họp tại Vatincan; nên còn gọi là Công đồng Vatican II.

Ở Việt Nam; những năm đầu của thế kỉ XVI; các giáo sĩ phương Tây đã đến truyền đạo. Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: “Năm Nguyên Hoà; đời vua Lê Trung Tôn – năm 1533; có một người Tây lương tên là Inêkhu theo đường biển lớn vào giảng đạo Giatô ở các làng Ninh Cường; Quần Anh; Trà Lũ thuộc tỉnh Nam Định”. Những năm sau đó; người tích cực làm công việc truyền đạo Kitô vào Việt Nam là Alêcxđrơ đơ Rốt. Naă 1644; Hội Thừa sai truyền giáo Pari chính thức ra đời và được giáo hoàng trao truyền truyền đạo từ Việt Nam; Trung Quốc xuống Đông Nam Á.

Cùng với việc truyền đạo; khá đông các giáo sĩ của Hội thừa sai truyền giáo Pari có những hoạt động thiếu trong sáng nhằm phục vụ cho âm mưu xâm lược của người Pháp. Vì thế; các triều vua phong kiến; nhất là Nguyễn Gia Long đã ra các lệnh cấm đạo. Lịch sử du nhập Kitô giáo vào Việt Nam; vì thế; không bình thường như các tôn giáo khác. Sau khi người Pháp chiếm được nước ta; các nhà truyền đạo Kitô giáo đã được tự do truyền đạo vào Việt Nam.

          Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công; nhà nước của nhân dân ra đời. Sự phát triển của Kitô giáo nằm trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật.

          Ảnh hưởng của Kitô giáo với văn hoá Việt Nam phải nhìn nhận ở khía cạnh chữ Quốc ngữ. Để truyền đạo cho người Việt; các giáo sĩ đã dùng bộ chữ cái Latinh để ghi âm tiếng Việt – thứ chữ ấy về sau được gọi là chữ Quốc ngữ. Chữ Quốc ngữ quả là công sức tập thể của nhiều giáo sĩ phương Tây và những người Việt Nam theo đạo này. Lúc đầu; người dân Việt Nam phản ứng không dùng chữ này; về sau; các trí thức đã hiểu được cái lợi của chữ Quốc ngữ trong việc nâng cao dân trí đã ra sức cổ động cho việc dùng chữ Quốc ngữ. Từ chỗ là chữ lưu hành trong nội bộ đạo Kitô; chữ Quốc ngữ đã là chữ viết được cả dân tộc sử dụng.

Để lại một bình luận

Hãy trở thành người đầu tiên bình luận!

avatar
wpDiscuz
Bài liên quan
Sách và tư liệu
Nghìn lẻ một đêm – Chương 19
No img
Tâu bệ hạ - ScheherazaDe nói: - Sáng hôm sau, hoàng tử Camaralzaman thức dậy, ...
Chủ nghĩa thực dân quân phiệt
No img
CHỦ NGHĨA QUÂN PHIỆT THỰC DÂNChúng tôi đã nói rằng, việc bắt lính ráo riết là một trong những nguyên ...
Vật lý 12_Lượng tử ánh sáng_Tập hợp câu hỏi lý thuyết đề thi đại học_có đa
Vật lý 12_Lượng tử ánh sáng_Tập hợp câu hỏi lý thuyết đề thi đại học_có đa
Nằm trong bộ tổng hợp câu hỏi lý thuyết đề thi đại học phân theo chủ đề: https://hoctap24h.vn/vat-ly-12_phan-co-hoc_tap-hop-cau-ly-thuyet-de-thi-dh_co-da https://hoctap24h.vn/vat-ly-12_song-co-hoc_tap-hop-cau-hoi-ly-thuyet-de-thi-dai-hoc_co-da https://hoctap24h.vn/vat-ly-12_dien-xoay-chieu_tap-hop-cau-hoi-ly-thuyet-de-thi-dai-hoc_co-da https://hoctap24h.vn/vat-ly-12_dao-dong-dien-tu_tap-hop-cau-hoi-ly-thuyet_co-da https://hoctap24h.vn/vat-ly-12_song-anh-sang_tap-hop-cau-hoi-ly-thuyet-de-thi-dai-hoc_co-da
Đông dương và Thái bình dương
No img
ĐÔNG DƯƠNG VÀ THÁI BÌNH DƯƠNGLò lửa của cuộc chiến tranh thế giới sắp tới - Nước Pháp muôn khai ...
KHẢO SÁT KHỐI 12 LẦN 2 MÔN : NGỮ VĂN-SỞ GD & ĐT VĨNH PHÚC TRƯỜNG THPT YÊN LẠC Đề thi có 02 trang
KHẢO SÁT KHỐI 12 LẦN 2  MÔN : NGỮ VĂN-SỞ GD & ĐT VĨNH PHÚC TRƯỜNG THPT YÊN LẠC Đề thi có 02 trang
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)            Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 4:Đánh ...