Phép phân chia khái niệm
( Logic học đại cương – Nguyễn Tuấn Anh)
1.Bản chất và nguồn gốc của phân chia khái niệm
Nếu định nghĩa là thao tác nhằm vào nôi hàm khái niệm, thì phân chia lại là thao tác nhằm vào ngoại diên của khái niệm để vạch ra ngoại diên của các khái niệm chủng trong khái niệm loại theo môt căn cứ xác định.
Sở dĩ có thể phân chia khái niệm được là vì, môt tính xác định về chất (là cơ sở của phép định nghĩa) của đối tượng thực có thể thể hiện ở những hình thức khác nhau phụ thuộc vào quan hệ qua lại của đối tượng với các đối tượng khác, vào mức đô biến đổi và phát triển của nó. Sự hiện hữu của các hình thức thể hiện là cơ sở khách quan của phân chia. Nếu định nghĩa trả lời câu hỏi: “đối tượng là gì?”, thì phân chia trả lời: “đối tượng ấy cố những hình thức nào?”
Cần phân chia khái niệm trong 3 trường hợp, khi phải vạch ra không chỉ bản chất của tư duy, mà còn cả các hình thức thể hiện và phát triển của nó; khi người đối thoại không rõ lĩnh vực ứng dụng của khái niệm; khi sử dụng từ đổng âm khác nghĩa, chỉ ra các nghĩa của nó về thực chất đã là phân chia khái niệm.
Cần phân biệt việc phân chia khái niêm như là vạch ra các khái niêm chủng trong khái niệm loại với việc chỉ ra các bô phân trong một chỉnh thể. Đây là hai thao tác có những điểm khác biệt mà không phải lúc nào người ta cũng phân biệt được
2.Cấu tạo của phép phân chia gồm 3 bộ phân là:
- Khái niệm bị phân chia: là khái niệm loại mà từ đó ta vạch chỉ ra các khái niệm chủng chứa trong nó (ký hiệu là A).
- Cơ sở phân chia: là căn cứ, dấu hiệu, mà dựa vào đó ta chia khái niệm loại ra thành các khái niệm chủng. Khi thực hiện phân chia khái niệm cần lưu ý là việc lựa chọn cơ sở của nó sẽ quyết định giá trị khoa học và thực tiễn của phép phân chia.
- Các khái niệm chủng thành phần: là các khái niệm thu được sau khi phân chia (ký hiệu là Aj, A2, □ An).











Để lại một bình luận
Hãy trở thành người đầu tiên bình luận!