Fori.vn – Sản phẩm tốt – giá tốt nhất
Ca trù được tổ chức chặt chẽ thành phường, giáo phường, do trùm phường và quản giáp cai quản. Ca trù có quy chế về sự truyền nghề, cách học đàn học hát, có những phong tục trong sự nhìn nhận đào nương rành nghề, như lễ mở xiêm áo (thầy cho phép mặc áo đào nương để biểu
diễn chính thức lần đầu tiên trong đình làng gọi là hát Cửa đình), có những quy chế về việc chọn đào nương đi hát thi (ngoài tài năng và sắc diện cần phải có đức hạnh tốt).
Các cuộc hát thi và phát giải được tổ chức rành rẽ, các lễ hội được cử hành rất nghiêm chỉnh.
Hầu hết, các loại hình nhạc cổ Việt Nam đều có sự phối hợp giữa thơ và nhạc như: Vè, Đồng dao có thơ ba, bốn chữ, các bài Hát ru, Hò, Lý, các làn điệu Chèo thường là thơ lục bát, lục bát biến thế hay song thất lục bát. Không chỉ có vậy, Ca trù là một loại nhạc thính phòng,như ca Huế miền Trung, ca Tài tử miển Nam. Nhưng trong các loại nhạc thính phòng này, bài ca có những nét nhạc cố định, nếu đặt lời mới cũng phải tuân theo nét nhạc đó
Ca trù giai điệu không cố định mà tùy theo thanh giọng của lời thơ, vì vậy mà trong các bài Gửi thư, hát ru, Bắc phản, Mưỡu… có những giai điệu khác nhau, cùng là thể hát nói nhưng có rất nhiều bài. Mỗi loại thơ đều có nét nhạc và tiết tấu đặc biệt tạo ra nhiều thể trong Ca trù.
Đặc biệt trong Ca trù, thanh nhạc và khí nhạc đi song hành với nhau và mỗi loại đều cổ nét đặc thù. về thanh nhạc ngoài hát Tuồng có những kỹ thuật phong phú và độc đáo còn các bộ môn ca nhạc cổ truyền khác đều không có kỹ thuật thanh nhạc phức tạp, tinh vi như Ca trù. Thể hiện rõ nhất là khi đào nương cất tiếng hát, kỹ thuật hát rất điêu luyện, không cần há to miệng, không đẩy mạnh hơi từ buồng phổi mà ém hơi trong cố, ậm ự mà lời ca vẫn rõ ràng, tròn vành rõ chữ. Hát trong cửa đình không cần ngân nga. Hát chơi có cách đổ hột, đổ con kiến làm cho tiếng hát thêm duyên, có khi như tiêng nức nở, thở than quyện vào lòng người.
Trong Ca trù, bên cạnh thanh nhạc thì khí nhạc cũng hết sức quan trọng và đặc biệt. Khí nhạc gồm: cỗ phách, đàn Đáy và trống chầu. Cỗ phách chỉ là một thanh tre hay một mảnh gỗ gọi là bàn phách và hai chiếc dùi gỗ là phách cái và phách con. Gõ hai dùi vào cỗ phách tạo nên tiếng
trầm tiếng bổng, tiếng mạnh, tiếng nhẹ, tiếng thấp, tiếng cao, tiếng trong, tiếng đục, tiếng dương, tiếng âm… Người biểu diễn cũng hết sức nhịp nhàng, tay cầm phách cái con, tay đưa lên cao, tay đưa xuống thấp uyển luyển như múa.
Tuy nhiên, nhạc cụ đặc trưng của Ca trù chính là đàn Đáy. Thùng đàn hình chữ nhật hay hình thang, mặt đàn bằng cây ngô đồng, có mặt mà không có đáy, cần rất dài, gắn mười hay mười một phím bằng tre rất cao, phím đầu ở ngay giữa bề dài của dây đàn. Đàn mắc ba dây tơ, có cách nhấn khác thường, tiếng vê, tiếng vẩy, tiếng lia, lúc chân phương khi dìu dặt, dễ đi vào lòng người.
Góp thêm âm hưởng trong Ca trù là trống chầu. Trống chầu trong Ca trù cũng khác với trống chầu trong Tuồng, hát Bội… cả ở kích thước lẫn cách đánh. Kích thước và hình thức của trống chầu rất gần với trống đế của Chèo nhưng cách đánh và chức năng hoàn toàn khác. Dùi trống không gọi là “dùi” mà gọi là “roi chầu”. Roi chầu bằng gỗ, dài hơn dùi trống khách. Người gõ trống (quan viên) phải là người sành và am hiểu thấu đáo âm luật Ca trù mới có thể cầm roi được. Người đánh trống ít nhất phải biết năm phép trống dục, sáu phép trống chầu và nhiều cách biên hóa khác nữa. Khi đã cung hòa trong một canh hát thì tiếng trống sẽ trở thành nhạc cụ thứ ba sau phách và đàn nhằm tôn vinh tiếng hát với lời thơ. Tất cả trở thành một bản hòa tấu vô cùng phong phú của nhiều âm sắc, nhiều tính năng khác nhau và luôn có sự thay đổi. biến hóa không ngừng.
Ca trù là hình thức biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp đầu tiên cùa Việt Nam, bao hàm rất nhiều hình thức nghệ thuật trong đó có nghệ thuật ca hát, nghệ thuật múa và nghệ thuật trình diễn. Hơn nữa, Ca trù thực sự là nghệ thuật âm nhạc của người Việt Nam sáng tác, nó không vay mượn. Cái hay cùa loại hình nghệ thuật này còn ở chỗ bản thân Ca trù có sự dịch chuyển rất mạnh mẽ
Từ hát ở cửa đình ra sinh hoạt đời thường, hát khao vọng, hát mừng lên lão, rồi nó ra cả quán hát cho các nhà văn, nhà thơ nghe.
Những nhà văn, thơ lớn của chúng ta như Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Tuân, Thạch Lam đều chơi với nó cả, một thú chơi cực kỳ văn minh. Và trong quá trình dịch chuyển đó nó vẫn bảo tồn được ba hình thức nghệ thuật ca, múa và trình diễn, tự dịch chuyển không gian và bảo tồn luôn giá trị. Ca trù đi vào đời sống Hà Nội từ 50 năm nay và đã có nhà hát riêng…
Nghệ thuật Ca trù của Việt Nam đã bộc lộ được sự quyến rũ, thanh tao và độc đáo. Những đặc trưng riêng biệt của Ca trù đã tạo nên sự độc nhất vô nhị không có ở bất kỳ loại hình nghệ thuật nào. Hơn nữa, Ca trù còn có bề dày lịch sử, chiều sâu nghệ thuật, được sự đón nhận nồng
hậu của người trong nước và nước ngoài, sự tôn vinh và tài trợ của các tổ chức quốc tế, rất xứng đáng được UNESCO công nhận là di sản vàn hoá phi vật thể của nhân loại trong tương lai.Trích “ Hỏi đáp văn hóa dân ca ba miền Bắc – Trung – Nam. NXB Quân đội’’











Để lại một bình luận
Hãy trở thành người đầu tiên bình luận!