Văn hóa cổ truyền đứng trước công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa

Văn hóa cổ truyền đứng trước công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa

2.1. Trong giai đoạn hiện nay. Khi sự giao lưu với phương Tây đem lại những biến đổi ngày càng mạnh mẽ về mọi phương diện. Thì cơ chế bao cấp quan liêu đã không còn đáp ứng được những yêu cầu cấp bách của thời đại. Kết quả là. Đứng trước công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Văn hóa cổ truyền Việt Nam buộc phải đối mặt với kinh tế thị trường. Trong cuộc đối mặt này, có cái hay cái dở, cái được cái mất, có cái xuất hiện và cái tiêu vong, có cái ta sẽ thoát khỏi và có cái ta sẽ nhiễm phải. Những nét phác thảo của bức tranh này có thể thấy qua bảng K1.

 

 

CÁI HAY

CÁI DỞ

Cái được (thêm)

Cái thoát khỏi

Cái mất (giảm)

Cái nhiễm phải

1

Đô thị, công nghiêp phát triển

Đô thị bị nông thôn khống chế

MôI trường tự nhiên

Nan ô nhiễm môi trường

2

ĐS vât chất cao, tiện nghi đầy đủ

Sự nghèo nàn, thiếu thốn

Lối sống tình nghĩa

Lối sống thực dụng

3

Vai trò cá nhân nâng cao

Thói dựa dẫm, bệnh bảo thủ

Tinh tâp thể, ổn định gia dinh

Lối sống cá nhân chù nghĩa

4

Tinh thẩn tự do phê phán

Thói

gia trưởng

Nền nếp, chữ’lễ”

Lối sống “cá đối bằng dắu“

5

Sự liên kết quốc tế rộng rãi

Óc địa phưong chù nghĩa

Tỉnh

tự trị giảm

Những hiện  tượng đổi trụy

Văn hóa cổ truyền với kinh tế thị trường – cái hay và cái dở

Nhiều cái hay, cái dở, cái được, cái mất này đã thấy ngay trước mắt.  Chưa bao giờ đô thị và công thương nghiệp lại phát triển với tốc độ nhanh chóng như những năm gần đây. Nhưng cùng với nó. Tiếng ồn và bụi bặm các loại đang ngày càng trở thành nỗi khổ của người dân đô thị.

Chất thải công nghiệp tử thành phố đang tràn ra tấn công vùng nông thôn. Cũng trong những năm gần đây đời sống vật chất được nâng cao với những tiện nghi hiện đại nhất, mức sống của người dân được cải thiện trông thấy. Nhưng cùng với nó, lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền cũng có nguy cơ phát triển. Nhịp sống đô thị ngày càng căng thẳng đang khiến quan hệ gia đình trở nên lỏng lẻo; cha con, vợ chồng ít quan tâm đến nhau hơn.

Bảng K1 trình bày ở trên như một mô hình mà mỗi ô đều nằm trong những mối liên hệ chặt chẽ theo hàng ngang và theo cột dọc, nó có thể giúp ta tìm ra phương án tối ưu sao cho dở ít hay nhiều.

2.2. Trong việc dung nạp cơ chế kinh tế thị trường làm một phương tiện để công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Từ phía văn hóa cổ truyền có những thuận lợi và khó khăn gì?

THUẬN LỢI cơ bản là văn hóa Việt Nam vốn có đặc tính linh hoạt (do lối tư duy tổng hợp, trọng quan hệ), điều này rất thích hợp cho sự thâm nhập của kinh tế thị trường vốn có đặc điểm là năng động, nhanh nhạy. Đây chính là một nguyên nhân quan trọng giải thích tại sao cùng xuất phát từ một cơ chế xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam tiếp nhận nền kinh tế thị trường nhẹ nhàng hơn các nước khác.

Nhưng do giữa văn hóa cổ truyền và kinh tế thị trường, cái giống thì ít mà cái khác thì nhiều, cho nên có không ít KHÓ KHĂN.

Khó khăn thứ nhất là bệnh tùy tiện – mặt trái của lối ứng xử linh hoạt. Điều này hoàn toàn không thích hợp với thói quen ứng xử quyết đoán, nguyên tắc của văn hóa phương Tây. Bệnh này có những biểu hiện như tật dễ thay đổi ý kiến; tật chưa quen sống và làm riết theo pháp luật. Một khó khăn nghiêm trọng khác là bệnh làm ăn kiểu sản xuất nhỏ – mặt trái của tính cộng đồng và tính tự trị làng xã. Một biểu hiện của nó là nạn hàng giả, hàng rởm; tệ nói thách. Cung cách làm ăn theo kiểu phường hội, thương nhân liên kết với nhau để chèn ép khách hàng (xem III-§3.2.2).

Tính cộng đồng không chỉ dẫn đến bệnh làm ăn kiểu sản xuất nhỏ mà còn dẫn tới bệnh gia đình chủ nghĩa, tật xuề xòa đại khái, thói ỷ lại. Một xã hội muốn phát triển thì các năng lực cá nhân phải được giải phóng; đòi hỏi đó đang gặp phải trở ngại rất lớn là con người của nền văn hóa gốc nông nghiệp bị ràng buộc vào với cộng đồng, bị chi phối bởi thói đô kị cào bằng. Người nông nghiệp sống trong không gian làng xã khép kín theo một nhịp sống tĩnh tại, ổn định, không vội vã – tác phong đủng đỉnh này cũng là một khó khăn không nhỏ, bởi lẽ nhịp sống công nghiệp đòi hỏi sự nhanh gọn, chính xác, khoa học.

Ngoài những khó khăn chủ yếu trên, còn không ít những khó khăn nhỏ khác như bệnh “phép vua thua lệ làng” (sản phẩm của truyền thống làng xã tự trị) dẫn đến tình trạng thiếu thông suốt từ trên xuống dưới (từ trung ương xuống địa phương, từ thủ trưởng xuống nhân viên) và thiếu đồng bộ giữa các bộ phận với nhau (giữa các địa phương, các nhân viên). Bệnh cửa quyền, sản phẩm của lối quản lí “nhẹ lương nặng bổng” truyền thống (x. VI-§3.3.2) và tàn dư của cơ chế quan liêu bao cấp gần đây dẫn đến hiện tượng độc đoán, chèn ép, thái độ ban ơn ở những người làm việc trong một số lĩnh vực độc quyền.

2.3. Tuy có nhiều khó khăn, nhưng phần lớn chúng đều mang tính nhất thời. Với việc làm ăn ngày càng quy củ nền nếp. Luật pháp kỉ cương ngày càng hoàn thiện thì lối làm ăn tùy tiện sẽ ngày càng bị đẩy lùi. Với nền kinh tế hàng hoá ngày càng phát triển, nhu cầu tiêu thụ ngày càng lớn, từ lối làm ăn kiểu sản xuất nhỏ buôn bán thiếu thật thà sẽ không còn thích hợp. Khi công việc càng nhiều, nhịp sống càng khẩn trương thì tác phong đủng đỉnh sẽ không còn chỗ đứng. Khi quan hệ xã hội càng rộng thì lối cư xử gia đình chủ nghĩa sẽ bị đẩy lùi…

Không những thế, Việt Nam đang có một thuận lợi cơ bản (ngoài thuận lợi đã nói) – đó là công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước đang được tiến hành trong một không gian thuận lơi (sự ủng hộ của các nước Đông Á và Đông Nam Á), thời gian thuận lợi (thế giới đang hướng về khu vực châu Á – Thái Bình Dương), và chủ thể thuận lợi (nhân dân phấn khởi, Đảng và Chính phủ quyết tâm). Sau nhiều thế kỉ suy thoái, nhiều nước phương Đông đã bước vào chu kì phát triển, trở lại địa vị được phương Tây ngưỡng mộ. Đối với Việt Nam, tuy có chậm, nhưng thời điểm đó cũng đang đến. Đó chính là chúng ta đang có thiên thời, địa lợi và nhân hòa.

Tuy con đường đi lên không đơn giản, dễ dàng, những khó khăn luôn đón đợi, níu kéo, nhưng một điều rõ ràng là, khi xã hội đủ những điều kiện cần thiết, Việt Nam có thể tự điều chỉnh để chuyển từ truyền thống hài hòa thiên về âm tính (x. III-§3.3) sang khuynh hướng hài hòa thiên về dương tính.

Việc thiên về dương tính sẽ hướng đất nước sang con đường phát triển; còn tính hài hòa sẽ đảm bảo cho sự phát triển diễn ra vững chắc – phát triển trong dung hợp và tích hợp phương Đông với phương Tây, văn hóa dân tộc với văn minh thế giới. Đây chính là điểm mấu chốt trong việc giải bài toán tối ưu giữa hai nhiệm vụ nâng cao đời sống và phát triển kinh tế đi đôi với bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc đã nêu trên.

Cơ sở văn hóa Việt Nam – Gs Trần Ngọc Thêm

Để lại một bình luận

Hãy trở thành người đầu tiên bình luận!

avatar
wpDiscuz
Bài liên quan
Sách và tư liệu
Tuyển tập câu hỏi lý thuyết_Dao động cơ học_ND 1_Đáp án
Tuyển tập câu hỏi lý thuyết_Dao động cơ học_ND 1_Đáp án
Để được giải đáp những vấn đề mình thắc mắc các bạn vào group: Học Vật lý cùng Nhân Thành ...
PHÒNG KIỂM DUYỆT Ở ĐÔNG DƯƠNG
No img
PHÒNG KIỂM DUYỆT Ở ĐÔNG DƯƠNGBáo L'Humanité, sô" ra ngày 13 tháng 9 có cho biết ồ Mađagátxca vẫn còn ...
Cây tre trăm đốt
No img
Ngày xưa, có một ông già nhà quê có một cô gái đẹp. Trong nhà ...