Fori.vn – Sản phẩm tốt – giá tốt nhất
Nhìn lại bản sắc và tính cách văn hóa Việt Nam.
Cơ sở văn hóa Việt Nam – Gs Trần Ngọc Thêm
Cho đến nay. Văn hóa Việt Nam đã trải qua nhiều biến động. Nhưng do những hoàn cảnh địa lí – khí hậu và lịch sử – xã hội riêng nên dù biến động đến đâu. Nó vẫn mang trong mình những nét bản sắc không thể trộn lẫn được với một tiến trình tạo thành ba lớp văn hóa rõ rệt. Nó hình thành trên nền của văn hóa Nam-Á và Đông Nam Á (lớp văn hóa bản địa). Trải qua nhiều thế kỉ. Nó đã phát triển trong sự giao lưu mật thiết với văn hóa khu vực, trước hết là Trung Hoa (lớp thứ hai). Từ vài thế kỉ trở lại đây nó đang chuyển mình dữ dội nhờ đi vào giao lưu ngày càng chặt chẽ với văn hóa phương Tây (lớp thứ ba).
1.1. Lớp bản địa với cái nền Nam-Á và Đông Nam Á (= Đông Nam Á cổ đại) đã để lại cho văn hóa Việt Nam những đặc điểm nền tảng. Tạo nên sự tương đồng với văn hóa các dân tộc Đông Nam Á và sự khác biệt với văn hóa Hán. Những đặc điểm đó là:
1) Về đời sống vật chất. Có nghề nông trồng lúa nước cùng các kĩ thuật nông nghiệp đi kèm (cấy hái, tưới tiêu…), các công cụ sản xuất (rìu, cày bừa…). Các loại cây trồng khác (bầu bí, trầu cau…). Các loại thú nuôi (trâu, gà, lợn…). Hệ quả của nghề nông lúa nước là cơ cấu ăn trong đó cơm là chủ đạo, rau thứ hai, cá thứ ba. Với thức uống là rượu gạo, với tục ăn trầu cau.
Hệ quả của khí hậu nóng là cách mặc các đồ thoáng mát (váy, yếm, khố, quần lá tọa…) làm từ chất liệu thực vật (tơ tằm, đay gai, bông…). Cách ở có chọn hướng kĩ càng (hướng nam, vai trò của phong thủy). Hệ quả của thiên nhiên sông nước là vai trò của việc đi lại bằng thuyền. Là kiến trúc nhà sàn mái cong hình thuyền.
2) Một hệ quả quan trọng của nghề nông lúa nước là tính thời vụ cao. Dẫn đến chỗ trong tổ chức xã hội, người Việt Nam phải sống liên kết chặt chẽ với nhau (tính cộng đồng) thành những gia tộc những phường hội, những phe giáp, những làng xã khép kín (tính tự trị). Lối tổ chức này tạo nên tính dân chủ và tính tôn ti. Tinh thần đoàn kết, tính tập thể, tính tự lập (nhưng đồng thời cũng có cả những thói xấu đi kèm như thói gia trưởng, óc bè phái địa phương, thói ích kỉ, lối sống dựa dẫm, thói đố kị cào bằng). Ở phạm vi lớn, làng trở thành nước, tính cộng đồng và tính tự trị chuyển hóa thành tinh thần đoàn kết toàn dân và ý thức để lập dân tộc. Nó dẫn tới lòng yêu nước nồng nàn.
3) Về nhận thức. Cuộc sống nông nghiệp luôn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau đã khiến con người phải chú trọng tới các mối quan hệ giữa chúng. Dẫn đến lối tư duy biện chứng với sản phẩm. Điển hình là triết lí âm dương. Mà biểu hiện cụ thể. Là lối sống quân bình luôn hướng tới sự hài hòa. Hài hòa âm dương trong bản thân mình (để phòng bệnh và chữa bệnh, để sống lạc quan…). Hài hòa âm dương trong quan hệ với môi trường tự nhiên (ăn, mặc, ở…). Hài hòa âm dương trong tổ chức cộng đồng và trong quan hệ vệ môi trường xã hội (sống không làm mất lòng ai, chiến thắng nhưng không làm đối phương mất mặt…).
4) Nhưng sự hài hòa, quân bình này không phải là tuyệt đối. Do hạn chất nông nghiệp nên đây là sự hài hòa thiên về âm tính. Trong tổ chức gia đình truyền thống thì phụ nữ giữ vai trò cao hớn nam giới. Trong tổ chức xã hội thì. Xu thế ưa ổn định nổi trội hơn xu thế ưa phát triển, âm mạnh hơn dương (làng xã tạo ra hàng loạt biến phép duy trì sự ổn định như khuyến khích gắn bó với quê cha đất tổ khinh rẻ dân ngụ cư, thu cheo ngoại nặng hơn cheo nội…. Việc chọn đất đặt kinh đô cũng hướng tới mục tiêu ổn định, làm “đế đô muôn đời”. ). Chính đó là cái gốc khiến cho, dù trải qua bao phong ba. Việt Nam không bị kẻ thù đồng hóa.
Trong giao tiếp và quan hệ xã hội. Thì coi trọng tình cảm hơn lí trí, tình thấp hơn vật chất, ưa sự tế nhị kín đáo hơn sự rành mạch thô bạo (cho dù có phải “vòng vo tam quốc”). Trong đối ngoại (ứng xử với môi trường xã hội thì mềm dẻo, hiền hòa. Trọng văn hơn võ.
5) Việc chú trọng các mối quan hệ cũng dẫn đến một lối ứng xử năng động, linh hoạt có khả năng thích nghi cao với mọi tình huống, mọi biến đổi. Tính động, linh hoạt này xuất hiện khắp nơi trong cách nghĩ. Trong nghệ thuật giao tiếp, thanh sắc, hình khối. Trong cách ăn, cách mặc, cách ở; trong cách tiếp nhận các giá trị văn hóa có nguồn gốc ngoại sinh. Trong cách thức tiến hành chiến tranh, hoạt động ngoại giao bảo vệ đất nước.
Sự linh hoạt chỉ mang lại hiệu quả khi nó được tiến hành trên nền của cái ổn định. Văn hóa Việt Nam chứa đựng sự kết hợp kì diệu của cái ổn định và cái linh hoạt. Con người ứng xử linh hoạt với nhau theo tình cảm trên cơ sở sự tồn tại của cộng đồng ổn định. Cách đánh giặc bằng chiến tranh du kích linh hoạt tiến hành trên cơ sở của chiến tranh nhân dân ổn định…
Trong khái niệm “đất nước”. Thì đất chính là biểu tượng của sự ổn định, còn nước là biểu tượng của sự linh hoạt (không có hình dáng nhất định),và khả năng thích nghi cao (chảy vào đâu thì mang hình dạng của vật đó) và luôn hướng tới sự quân bình (nước luôn chảy về chỗ trũng, bớt chỗ nhiều, bù chỗ thiếu). “Nước” còn là môi trường sống thiết thân của người Việt Nam. Nước nuôi cây lúa. Có lẽ chính vì nước quan trọng như vậy cho nên một khái niệm NƯỚC không thôi cũng đã có thể đại diện cho đất nước được rồi.
6) Cuộc sống nông nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau còn khiến con người phải luôn cố gắng bao quát chúng. Dẫn đến lối tư duy tổng hợp luôn kết hợp mọi cái với nhau. Lối sống cộng đồng (đã nói ở trên) gắn bó mọi người chặt chẽ với nhau thành một khối. Sự kết hợp lối ứng xử tổng hợp với linh hoạt tạo nên một tinh thần dung hợp rộng rãi và tính tích hợp như đỉnh cao của sự tổng hợp.
Không phải ngẫu nhiên mà ai cũng thấy người Việt Nam rất có tài trong việc lắp ghép, pha chế, cải tạo…. Mọi thứ vay mượn. Tạo nên những sản phẩm vật chất, tinh thần mang bản sắc đặc biệt Việt Nam (xem VI-§6). Tính dung hợp này khiến cho mọi tôn giáo du nhập vào Việt Nam đều được tiếp nhận và phát triển chứ không có tình trạng xung đột hoặc độc tôn về tôn giáo như ở một số nước khác.
Chính những điều vừa nói trên đã làm nên những đặc trưng BẢN SẮC của văn hóa Việt Nam.
1.2. Do vị trí ngã tư đường. Cho nên văn hóa Việt Nam liên tục tồn tại và phát triển trong sự giao lưu. Mà sự giao lưu để lại nhiều dấu ấn đậm nét hơn cả là giao lưu với văn hóa Hán. Đây là một cuộc giao lưu hai chiều. Vào khoảng trước thời Tần-Hán. Trên nhiều phương diện, ảnh hưởng văn hóa đi từ Đông Nam Á cổ đại (bao gồm cả phía nam sông Dương Tử) lên vùng Hoa Bắc (lưu vực sông Hoàng Hà).Từ thời Tần-Hán về sau thì lại theo chiều ngược lại từ Bắc xuống Nam. Những ảnh hưởng chủ yếu mà Việt Nam tiếp nhận là:
1) Về văn hóa vật chất. Là kĩ thuật luyện sắt cùng một số loại đồ sắt (đồ đồng mạnh ở phương Nam. Còn đồ sắt thì mạnh từ phương Bắc). Một số loại vũ khí, kĩ thuật làm giấy; một số vị thuốc (thuốc Bắc); trang phục quan lại…
2) Về lĩnh vực tinh thần. Là ngôn ngữ và văn tự Hán (chữ Nho) cùng một lớp từ chính trị -xã hội (từ Hán-việt). Cách thức tổ chức chính quyền trung ương và luật pháp. Tư tưởng Bát quái và Kinh Dịch cùng một số ứng dụng của nó.
3) Về tôn giáo – nghệ thuật. Là Đạo giáo (từ thời Bắc thuộc). Và Nho giáo (chủ yếu từ thời Lí-Trần và nhất là vào thời Lê, Nguyễn). Phật giáo qua đường Trung Hoa cũng góp phần đem lại những sắc thái riêng cho Phật giáo Việt Nam. Khu biệt nó với Phật giáo ở các nước Đông Nam Á khác. Văn chương sử sách Tàu cũng ảnh hưởng nhiều đến đời sống tinh thần của người Việt Nam, đặc biệt là tầng lớp trên. Một số phong tục tập quán (hoặc bộ phận của chúng) cũng thâm nhập và bén rễ…
Từ khi văn hóa phương Tây bắt đầu thâm nhập. Cùng lúc văn minh Trung Hoa suy thoái đi. Các yếu tố thuộc bản sắc truyền thống của văn hóa Việt Nam được dịp phát huy tác dụng. Tuy nhiên. Dù Việt Nam có ngày càng hội nhập sâu hơn vào thế giới. Một số yếu tố của văn hóa Trung Hoa đã mãi mãi trở thành một bộ phận của truyền thống văn hóa Việt Nam (lớp từ Hán-Việt, một số nét của truyền thống Nho giáo, Đạo giáo…).
Sự tích hợp và kế thừa liên tục. Làm cho văn hóa Việt Nam trở thành một sức mạnh lớn lao tập hợp được dân tộc thành một khối vững chắc biết ứng xử khéo léo với tự nhiên và luôn luôn chiến thắng những thế lực thù địch mạnh hơn mình gấp bội. Truyền thống là ỔN ĐỊNH. Còn hiện tại phải là PHÁT TRIỂN. Sức mạnh văn hóa bốn ngàn năm đó cũng chính là động lực cho sự phát triển của xã hội ngày hôm nay.








Để lại một bình luận
Hãy trở thành người đầu tiên bình luận!