Mỹ học là gì?

MỸ HỌC LÀ GÌ?

Quá trình xác định đối tượng của mỹ học trong lịch sử

Mỹ học với tính cách là một hình thái ý thức xã hội đã xuất hiện từ thời kỳ thượng cổ. Thời kỳ, mà lịch sử tư tưởng của nhân loại về cơ bản là những ý niệm sơ khai về chuẩn mực đạo đức và tín ngưỡng. Đó cũng là những quan niệm của chúng ta ngày nay về “Nghệ thuật hang động”[1].

Mỹ học là một bộ phận lý luận của triết học gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của triết học từ thời kỳ cổ đại. Đến thế kỷ XVIII, mỹ học tách khỏi triết học trở thành một khoa học độc lập.

Thuật ngữ “Mỹ học” đã có nguồn gốc trong ngôn ngữ Hy Lạp, xuất phát từ chữaisthetikos  có nghĩa là “cảm giác”, là “tính nhậy cảm”; hoặc: “có quan hệ với cảm thụ cảm tính”. Thực ra aisthetikos có hai nghĩa: thứ nhất, thường được giải thích là nhận thức cảm tính, thứ hai cũng được giải thích là nhận thức cảm tính, nhưng là nhận thức cảm tính của sự xúc động (rung động cảm xúc).

Tư tưởng mỹ học Hy Lạp ra đời nhằm tìm hiểu thực tiễn nghệ thuật thời đại của mình về mặt lý luận. Cho đến khi xuất hiện những quan điểm thẩm mỹ đầu tiên, nghệ thuật Hy Lạp cổ đại đã đạt đến trình độ cao. Hầu như tất cả các kiểu thế giới quan mỹ học sau này đều ra đời từ lý thuyết triết học – mỹ học Hy Lạp cổ đại.

Đến thời trung cổ, thời kỳ thần quyền tôn giáo là sự thống trị tuyệt đối của thần học, nghệ thuật chính thống chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tôn giáo. Trong nghệ thuật, người ta đã tìm cách cố gắng biện luận cho thế giới đồ vật có quyền được làm khách thể, thể hiện trực tiếp quyền lực của Đức Chúa Trời. Đó là tư tưởng của Tômát Đacanh, khi ông khẳng định: “Mọi sinh vật được sinh ra đều làm Chúa vui sướng, bởi vì mọi thứ đang tồn tại đều theo ý Chúa”.

Thời kỳ phục hưng, – thời kỳ mà Ph. Ăngghen đã gọi là thời kỳ của “một cuộc đảo lộn tiến bộ lớn nhất”. Nền văn hoá phục hưng ra đời trên cơ sở thời kỳ tiền tư bản, còn nhu cầu khai thác kho tàng các quan niệm cổ đại là do những nhu cầu thực tế của sự phát triển xã hội, chứ không phải chỉ là khôi phục giản đơn nền văn hoá nghệ thuật cổ đại Hy Lạp.

Đặc điểm cơ bản của sự phát triển mỹ học thời kỳ phục hưng là tìm cách tách mỹ học ra khỏi triết học. Bởi vì, mỹ học đã phát triển thành một phương diện cơ bản của nghệ thuật, do chính những văn nghệ sỹ đề xuất để giải quyết vấn đề cái đẹp, giải quyết phương hướng sáng tác, coi đó như một công cụ quan trọng để đấu tranh giải phóng con người, vì sự tiến bộ của xã hội.

Những quan niệm cơ bản của thế giới quan nhân văn thời kỳ này, thực chất là ca ngợi con người, tán dương cuộc sống trần thế, minh oan cho nhục cảm, niềm tin vào tiềm năng sáng tạo vô biên của cá nhân, quan tâm đến tự nhiên. Lý tưởng của các nhà nhân văn chủ nghĩa là một cá nhân hoàn toàn tự do, phát triển hài hòa, nhạy cảm và chủ động, với tầm vóc khổng lồ và những hứng thú lớn lao. Đó là các nhà tư tưởng Lêônađờvanhxi, Raphaen, Mikenlănggiơ. Điều đó, chứng tỏ rằng nghề thủ công đã tách ra khỏi nghệ thuật, và phương diện lý thuyết của nghệ thuật đã được đặc biệt đề cao.

Từ thời kỳ phục hưng trở đi, mỹ học không chỉ từ triết học tác động vào văn học nghệ thuật mà ngược lại, sự phát triển của văn học nghệ thuật, tự nó đòi hỏi những khái quát riêng của chính nó, do nó đề xuất. Và những khái quát này ra nhập vào mỹ học, mà bản thân những nguyên lý chung của triết học không giải đáp được những vấn đề riêng của đời sống thẩm mỹ, của nghệ thuật. Mặt khác, sự phân ngành của khoa học cụ thể ra khỏi triết học như một nhu cầu tất yếu của sự phát triển khoa học, dẫn đến triết học và các khoa học trở thành các khoa học độc lập, trong đó có mỹ học.

Chính những lý do trên, sự phát triển tự thân của mỹ học và việc xác định đối tượng nghiên cứu của nó là một nhu cầu khách quan. Baumgácten một giáo sư người Đức đã đưa ra khái miện mỹ học vào năm 1735. Ông cũng xuất phát từ chữ: aisthetikos để tạo ra thuật ngữ “Aesthetics”, có nghĩa là “học thuyết về các cảm giác” hoặc “lý luận về sự thụ cảm thẩm mỹ”. Ông cho rằng, mỹ học là một khoa học có nhiệm vụ nghiên cứu những đặc điểm của con đường nhận thức thế giới bằng cảm xúc, để phân biệt với các hình thái khác của hoạt động nhận thức như triết học, khoa học.

Sau Baumgácten, vấn đề đối tượng của mỹ học vẫn còn là vấn đề được tranh luận và được phát triển thêm.

Trong lịch sử mỹ học, về cơ bản có hai quan điểm:

Thứ nhất – mỹ học là khoa học về cái đẹp?

Có thể coi đây là một định nghĩa có tính truyền thống và ngắn gọn nhất. Dù định nghĩa này không được đầy đủ và chính xác, nhưng nó được coi là điểm xuất, là một cơ sở lý luận trong việc nghiên cứu đối tượng của mỹ học. Bởi vì, cái đẹp là một phạm trù trung tâm của mỹ học. Có thể coi đó là một định nghĩa mỹ học theo nghĩa hẹp, nhưng thực chất nội dung của nó không đủ xác định những nội dung cơ bản trong đối tượng của mỹ học.

Mỹ học không chỉ nghiên cứu cái đẹp mà còn nghiên cứu các hiện tượng thẩm mỹ khách quan khác như cái xấu, cái bi, cái hài, cái cao cả, cái thấp hèn. Vấn đề quan trọng hơn là mỹ học phải nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa các hiện tượng thẩm mỹ khách quan đó với tính cách là khách thể thẩm mỹ và mặt chủ quan của các mối quan hệ này – đó là chủ thể thẩm mỹ.

Nghiên cứu chủ thẩm mỹ không chỉ nghiên cứu tình cảm – thị hiếu và lý tưởng thẩm mỹ mà còn phải nghiên cứu năng lực cảm thụ – đánh giá và sáng tạo thẩm mỹ theo những qui luật của cái đẹp. Vì vậy, có thể định nghĩa mỹ học là khoa học về mối quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực?

Thứ hai – mỹ học là triết học về nghệ thuật?

Khuynh hướng này cho rằng đối tuợng của mỹ học là triết học về nghệ thuật, là những nghiên cứu những qui luật chung nhất của nghệ thuật như một hình thức đặc thù phản ánh hiện thực. Quan điểm này nghiên cứu nghệ thuật chỉ đơn giản về phương diện nhận thức hơn là bản chất thẩm mỹ của nghệ thuật với tính cách mỹ học về nghệ thuật chỉ là một bộ phận lý luận của triết học.

Nghệ thuật không chỉ là đối tượng nghiên cứu của triết học, văn hoá học mà còn là đối tượng khoa học của mỹ học, nghệ thuật học. Đối với mỹ học, nghệ thuật là hình thái cao nhất của quan hệ thẩm mỹ với hiện thực, nghệ thuật mới là đối tượng của mỹ học.

Nghiên cứu hình thái cao nhất của quan hệ thẩm mỹ, một mặt sẽ làm sáng tỏ bản chất, đặc trưng của quan hệ thẩm mỹ nói chung; mặt khác, chỉ có thể hiểu rõ bản chất và đặc trưng, vai trò của nghệ thuật khi xét nó trong toàn bộ quan hệ thẩm mỹ của con người. Vì vậy, có thể định nghĩa mỹ học là khoa học về quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực nói chung và về nghệ thuật như một hình thái cao nhất của các quan hệ thẩm mỹ?

Thông qua những vấn đề trên, chúng ta nhận thấy quá trình xác định đối tượng nghiên cứu của mỹ học trong lịch sử có nhiều quan điểm khác nhau về các mặt quan hệ của quan hệ thẩm mỹ. Song, về cơ bản là quan niệm đồng nhất đối tượng của mỹ học là khoa học về cái đẹp hay khoa học triết học về nghệ thuật.

Mỹ học đại cương 

Để lại một bình luận

Hãy trở thành người đầu tiên bình luận!

avatar
wpDiscuz
Bài liên quan
Sách và tư liệu
VẬT LÝ 10 – ND5. TÍNH TƯƠNG ĐỐI CỦA CHUYỂN ĐỘNG
VẬT LÝ 10 – ND5. TÍNH TƯƠNG ĐỐI CỦA CHUYỂN ĐỘNG
KIẾN THỨC VÀ BÀI TẬP CHƯƠNG 1: TÍNH TƯƠNG ĐỐI CỦA CHUYỂN ĐỘNG, VẬT LÝ LỚP 10 CHƯƠNG TRÌNH CƠ ...
Không phải chuyện đùa
No img
KHÔNG PHẢI CHUYÊN ĐÙACó thể bảo các ông nghị là những người thuộc một giống người khác. Từ giống những ...
UNIT 4 – TEST 2 – Tài liệu cô Cẩm Nhung
UNIT 4 – TEST 2 – Tài liệu cô Cẩm Nhung
 UNIT 4                                                  TEST 2 I.              PRONUNCIATION A.    Choose the word that has main stress placed differently from the others.1.     a. ...
Một Cách Chắc Chắn Để Gây Oán Thù Tránh Nó Cách Nào?
No img
Một Cách Chắc Chắn Để Gây Oán Thù Tránh Nó Cách Nào?Hồi^ ông Thoedore Roosevelt còn làm Tổng Thống, ông thú ...