Lược sử hình thành và phát triển môn kinh tế – chính trị

Lược sử hình thành và phát triển môn kinh tế – chính trị 

Từ xa xưa, trong các công trình nghiên cứu của những nhà bác học thời cổ đại như Xênôphông, Platôn, Arixtốt và trong một số tác phẩm của những nhà tư tưởng thời phong kiến  ở Trung Quốc,  ấn  Độ…  đã  đề cập những vấn  đề kinh tế. Tuy  nhiên,  đó  mới  chỉ  là  những  tư  tưởng  kinh  tế  còn  tản  mạn,  rời  rạc,  có  tính chất tổng kết kinh nghiệm, còn pha trộn với các kiến thức khoa học khác, chưa có học thuyết kinh tế hoàn chỉnh và độc lập. 

Kinh tế chính trị ra đời và trở thành một môn khoa học độc lập vào thời kỳ hình  thành  của  phương  thức  sản  xuất  tư bản  chủ nghĩa.  A.  Môngcrêchiên  –  nhà kinh tế học người Pháp là người đầu tiên nêu ra danh từ “kinh tế chính trị” để đặt tên cho môn khoa học này vào năm 1615. 

1. Chủ nghĩa trọng thương 

Chủ nghĩa trọng thương là hình thái đầu tiên của hệ tư tưởng tư sản trong lĩnh  vực  kinh  tế  chính  trị,  xuất  hiện  từ  giữa  thế  kỷ  XV  đến  giữa  thế  kỷ  XVII, trong giai đoạn tan rã của chế độ phong kiến và thời kỳ tích luỹ nguyên thủy tư bản chủ nghĩa.  Đó là thời kỳ chủ nghĩa duy vật  đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm,  kinh  tế  hàng  hoá  và  khoa  học  tự  nhiên  phát  triển  mạnh  (cơ  học,  thiên  văn học, địa lý…). Đặc biệt là những phát kiến địa lý cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI tìm ra châu Mỹ, đường biển qua châu Phi, từ châu Âu sang ấn Độ… đã tạo điều kiện cho ngoại thương phát triển. Chính vì vậy, các nhà tư tưởng của chủ nghĩa trọng  thương  với  những  đại  biểu  điển  hình  ở  Anh  như  Uyliam  Staphot  (1554- 1612),  Tômat  Mun  (1571-1641);  ở  Pháp  là  Môngcrêchiên  (1575-1629),  Cônbe (1618-1683) đã đánh giá cao vai trò của thương nghiệp, đặc biệt là ngoại thương, coi thương nghiệp là nguồn gốc giàu có của quốc gia. 

Đối tượng nghiên cứu của chủ nghĩa trọng thương là lĩnh vực lưu thông; lấy tiền làm nội dung căn bản của của cải, là biểu hiện sự giàu có của một quốc gia; dựa vào quyền lực nhà nước để phát triển kinh tế; nguồn gốc của lợi nhuận là từ thương nghiệp do mua rẻ bán đắt… nhằm tích luỹ tiền tệ, đẩy nhanh sự ra đời của chủ nghĩa tư bản. 

Chủ nghĩa trọng thương chưa biết đến quy luật kinh tế, phương pháp nghiên cứu là sự khái quát có tính chất kinh nghiệm những hiện tượng bề ngoài của đời sống kinh tế – xã hội, họ mới chỉ đứng trên lĩnh vực lưu thông, trao đổi để xem xét  những  biện  pháp  tích  luỹ  tư  bản.  Vì  vậy,  khi  sự  phát  triển  cao  hơn  của  chủ nghĩa tư bản đã dần dần làm cho những luận điểm của chủ nghĩa trọng thương trở nên lỗi thời, phải nhường chỗ cho học thuyết kinh tế mới, tiến bộ hơn. 

2. Chủ nghĩa trọng nông 

Chủ nghĩa trọng nông xuất hiện chủ yếu ở Pháp vào giữa thế kỷ XVIII do hoàn  cảnh  kinh  tế  đặc  biệt  của  Pháp  lúc  bấy  giờ  là  sự  đình  đốn  của  nền  nông nghiệp. Do sự bóc lột hà khắc của địa chủ phong kiến, nông dân phải nộp địa tô cao và nhiều thứ thuế khác; thêm vào đó là chính sách trọng thương của Cônbe đã  cướp  bóc  nông  nghiệp  để  phát  triển  công  nghiệp  (hạ  giá  ngũ  cốc,  thực  hiện “ăn  đói  để  xuất  khẩu”…)  làm  cho  nông  nghiệp  nước  Pháp  sa  sút  nghiêm  trọng, nông dân túng quẫn. Nhà triết học Vônte đã nhận xét: “Nông dân bàn tán về lúa mỳ nhiều hơn về thượng đế”. Trong bối cảnh đó chủ nghĩa trọng nông đã ra đời nhằm  giải  phóng  kinh  tế  nông  nghiệp  nước  Pháp  khỏi  quan  hệ  sản  xuất  phong kiến, phát triển nông nghiệp theo kiểu tư bản chủ nghĩa. 

Những  đại  biểu  xuất  sắc  của  chủ  nghĩa  trọng  nông  là  Phơrăngxoa  Kênê (1694-1774)  và  Tuyếcgô  (1727-1771).  So  với  chủ  nghĩa  trọng  thương  thì  chủ nghĩa trọng nông đã đạt được những bước tiến bộ đáng kể trong phát triển khoa học kinh tế. Chủ nghĩa trọng nông đã chuyển  đối tượng nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất, tìm nguồn của của cải và sự giàu có của xã hội từ lĩnh vực sản xuất; coi sản phẩm thuần tuý (sản phẩm thặng dư) là phần chênh lệch giữa tổng sản phẩm và chi phí sản xuất; giá trị hàng hoá có trước khi đem trao đổi, còn lưu thông và trao đổi không tạo ra giá trị; lần đầu tiên việc nghiên cứu  tái  sản  xuất  xã  hội  được  thể  hiện  trong  “Biểu  kinh  tế”  của  Ph.  Kênê…  là những tư tưởng thiên tài của thời kỳ bấy giờ. 

Tuy nhiên, chủ nghĩa trọng nông còn nhiều hạn chế: Chỉ coi nông nghiệp là ngành  sản  xuất  duy  nhất,  là  nguồn  gốc  của  sự  giàu  có,  chưa  thấy  vai  trò  quan trọng  của  công  nghiệp;  chưa  thấy  mối  quan  hệ  thống  nhất  giữa  sản  xuất  và  lưu thông.  Họ  đã  nghiên  cứu  chủ  nghĩa  tư  bản  thông  qua  các  phạm  trù:  sản  phẩm thuần tuý, tư bản, lao động sản xuất, kết cấu giai cấp… nhưng lại chưa phân tích được những khái niệm cơ sở như: hàng hoá, giá trị, tiền tệ, lợi nhuận.

3. Kinh tế chính trị tư sản cổ điển 

Cuối  thế  kỷ  XVII,  khi  quá  trình  tích  luỹ  ban  đầu  của  chủ  nghĩa  tư  bản  đã kết thúc và thời kỳ phát triển của chủ nghĩa tư bản đã bắt đầu, nhiều vấn đề kinh tế của chủ nghĩa tư bản đặt ra vượt quá khả năng giải thích của chủ nghĩa trọng thương, đòi hỏi phải có lý luận mới. Vì vậy, kinh tế chính trị tư sản cổ điển đã ra đời và phát triển mạnh ở Anh và Pháp. 

Kinh tế chính trị tư sản cổ điển ở Anh mở đầu từ Uyliam Pétti (1623-1687) đến Ađam Xmít (1723-1790) và kết thúc ở Đavít Ricácđô (1772-1823). U. Pétti được mệnh danh là người sáng lập ra kinh tế chính trị tư sản cổ điển; A. Xmít là nhà kinh tế của thời kỳ công trường thủ công; Đ. Ricácđô là nhà kinh tế của thời kỳ đại công nghiệp cơ khí của chủ nghĩa tư bản, là đỉnh cao lý luận của kinh tế chính trị tư sản cổ điển. 

Các nhà kinh tế chính trị tư sản cổ điển đã chuyển đối tượng nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất, mà trong đó “lao động làm thuê của những  người  nghèo  là  nguồn  gốc  làm  giàu  vô  tận  cho  những  người  giàu”.  Lần đầu  tiên  các  nhà  kinh  tế  chính  trị  tư  sản  cổ  điển  đã  áp  dụng  phương  pháp  trừu tượng hoá khoa học để nghiên cứu các hiện tượng và quá trình kinh tế để vạch ra bản chất của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, trường phái này đã nêu được  một  cách  có  hệ  thống  các  phạm  trù  và  quy  luật  kinh  tế  của  xã  hội  tư  bản như:  giá  trị,  giá  cả,  tiền  tệ,  tư  bản,  lợi  nhuận,  lợi  tức,  địa  tô,  tiền  lương,  tái  sản xuất xã hội… Đồng thời họ là những người ủng hộ tự do cạnh tranh theo cơ chế thị trường tự điều chỉnh. 

Tuy nhiên, các nhà kinh tế chính trị tư sản cổ  điển còn nhiều hạn chế, coi quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản là quy luật tự nhiên, tuyệt  đối, vĩnh viễn. Nhận xét chung về kinh tế chính trị tư sản cổ điển, C. Mác viết: “Ricácđô, người đại biểu vĩ đại cuối cùng của nó, rốt cuộc cũng đã lấy một cách có ý thức sự đối lập giữa những lợi ích giai cấp, giữa tiền công và lợi nhuận, giữa lợi nhuận và địa tô, làm khởi điểm cho công trình nghiên cứu của mình và ngây thơ cho rằng sự đối lập  đó là một quy luật tự nhiên của  đời sống xã hội. Với  điều  đó, khoa học kinh tế tư sản đã đạt tới cái giới hạn cuối cùng không thể vượt qua được của nó”1. 

Đầu  thế  kỷ  XIX,  khi  cuộc  cách  mạng  công  nghiệp  đã  hoàn  thành,  mâu thuẫn kinh tế và giai cấp của chủ nghĩa tư bản đã bộc lộ rõ nét: 1825 mở đầu cho các  cuộc  khủng  hoảng  kinh  tế  có  chu  kỳ,  phong  trào  đấu  tranh  của  giai  cấp  vô sản ngày càng lớn mạnh đe doạ sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản. Vì vậy, trường phái kinh tế chính trị tư sản tầm thường đã xuất hiện nhằm bảo vệ lợi ích cho giai  cấp tư sản, biện hộ một cách có ý thức cho chủ nghĩa tư bản. C.Mác đã nhận xét: “Sự nghiên cứu không vụ lợi nhường chỗ cho những cuộc bút chiến của những kẻ viết văn thuê, những sự tìm tòi khoa học vô tư nhường chỗ cho lương tâm độc ác và ý đồ xấu xa của bọn chuyên nghề ca tụng”1. Những đại biểu điển hình của kinh tế chính trị tư sản tầm thường là Tômát Rôbớc Mantút (1766-1834) ở Anh; Giăng Batixtơ Xây (1767-1823) ở Pháp. 

4. Kinh tế chính trị Mác – Lênin 

Vào nửa đầu thế kỷ XIX, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã được xác lập hoàn toàn ở nhiều nước Tây Âu, những mâu thuẫn vốn có của chủ  nghĩa  tư  bản ngày càng gay gắt, phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản chống chế độ áp bức bóc lột của giai cấp tư sản ngày càng lên cao và chuyển từ tự phát sang tự giác, từ đấu tranh kinh tế đến đấu tranh chính trị, đòi hỏi phải có lý luận cách mạng làm vũ khí tư tưởng cho giai cấp vô sản – chủ nghĩa Mác đã ra đời. 

Các  Mác  (1818-1883)  và  Phriđrích  ăngghen  (1820-1895)  là  người  sáng  lập chủ nghĩa Mác với ba bộ phận cấu thành là triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học dựa trên cơ sở kế thừa có tính phê phán và chọn lọc những lý  luận  khoa  học  của  triết  học  cổ  điển  Đức,  kinh  tế  chính  trị  cổ  điển  Anh,  chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp. 

C. Mác và Ph. ăngghen đã làm cuộc cách mạng sâu sắc nhất trong kinh tế chính  trị  trên  tất  cả  các  phương diện về  đối  tượng và phương  pháp  nghiên  cứu, nội dung, tính chất giai cấp… của kinh tế chính trị. Kinh tế chính trị do C. Mác và Ph. ăngghen sáng lập là sự thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng, dựa vào phép biện chứng duy vật và đứng trên lập trường của giai cấp công nhân để xem  xét  các  hiện  tượng  và  quá  trình  kinh  tế  của  xã  hội  tư  bản.  C.  Mác  đã  xây dựng học thuyết giá trị thặng dư – hòn đá tảng của học thuyết kinh tế mác xít. C. Mác đã vạch rõ sự phát sinh, phát triển của chủ nghĩa tư bản với những tiến bộ, hạn chế, mâu thuẫn của nó và luận chứng khoa học về chủ nghĩa tư bản tất yếu sẽ bị  thay  thế  bởi  một  phương  thức  sản  xuất  mới,  cao  hơn  và  tiến  bộ  hơn,  đó  là phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa. 

Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong điều kiện lịch sử mới, V.I. Lênin (1870-1924) đã tiếp tục bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác lên tầm cao mới. V.I. Lênin  đã  sáng  tạo  ra  lý  luận  khoa  học  về  chủ  nghĩa  đế  quốc;  khởi  thảo  lý  luận mới về cách mạng xã hội chủ nghĩa; tính tất yếu khách quan, đặc điểm và nhiệm vụ  cơ  bản  của  thời  kỳ  quá  độ  lên  chủ  nghĩa  xã  hội.  Đồng  thời  V.I.  Lênin  còn vạch ra những quá trình có tính quy luật trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, chính sách kinh tế mới (NEP) có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự phát triển của nhân loại. 

Tóm lại, C. Mác, Ph. ăngghen và V.I. Lênin đã thực hiện cuộc cách mạng vĩ đại trong kinh tế chính trị học. Kinh  tế chính trị Mác – Lênin là lý luận sắc bén của giai cấp công  nhân  và nhân dân lao động toàn thế giới trong cuộc đấu tranh  chống chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản. 

 

Để lại một bình luận

Hãy trở thành người đầu tiên bình luận!

avatar
wpDiscuz
Bài liên quan
Sách và tư liệu
ĐA. Nội dung 13. Con lắc đơn, vận tốc, gia tốc, lực căng, cơ năng, thế năng
ĐA. Nội dung 13. Con lắc đơn, vận tốc, gia tốc, lực căng, cơ năng, thế năng
Để được giải đáp những vấn đề mình thắc mắc các bạn vào group: Học Vật lý cùng Nhân Thành ...
Vật lý 12_Lượng tử_Nd 2_Tia X
Vật lý 12_Lượng tử_Nd 2_Tia X
Kiến thức cần nhớ- Cho hiệu điện thế UAK (chú ý trường hợp đối với dòng điện xoay chiều), tính ...
Đề thi thử thpt môn Hóa lần 1_Hoàng Hoa Thám_TP.HCM _2017
Đề thi thử thpt môn Hóa lần 1_Hoàng Hoa Thám_TP.HCM _2017
Cùng ôn thi thpt môn Hóa 2017Khó khăn gì các em hãy kết bạn cùng Nhân Thành qua facebook: nhanthanhcs1@gmail.com, ...
UNIT 2 – PERSONAL EXPERIENCES – TIẾNG ANH LỚP 11 – CÔ NHUNG
UNIT 2 – PERSONAL EXPERIENCES – TIẾNG ANH LỚP 11 – CÔ NHUNG
 UNIT 2                          PERSONAL EXPERIENCESII.            Complete each of the sentences with the appropriate word from the box. Make changes if ...