Fori.vn – Sản phẩm tốt – giá tốt nhất
CÔNG CUỘC KHAI HOÁ GIÊT NGƯỜI
Người da trắng khai hoá những người da den như thế nào – Một vài sự việc mà những sách giáo khoa về lịch sử không nói đến.
Nếu lốĩ hành hình theo kiêu Linsơ của những bọn người Mỹ hèn hạ đối với những người da đen là một hành động vô nhân đạo, thì tôi không còn biết gọi việc những người Âu nhân danh đi khai hoá mà giết hàng loạt những người dân châu Phi là cái gì nữa.
Từ ngày người da trắng đặt chân lên bò biển lục địa của người da đen thì lục địa đó không lúc nào là không đẫm máu. Ớ đó, những cuộc tàn sát hàng loạt được Giáo hội cầu chúc phúc lành, được bọn vua chúa và nghị viện phê chuẩn một cách hợp pháp, được bọn buôn người da đen đủ mọi hạng – từ bọn buôn nô lệ xưa kia, cho đến bọn quan cai trị ngày nay ở thuộc địa – chăm chú thi hành.
TÔN GIÁO
Chính là để gieo rắc những ơn lành của đạo Kitô, mà vào khoảng năm 1442, những tưống tá của đức vua Tây Ban Nha rất ngoan đạo đã đổ bộ lên bờ biển châu Phi. Việc truyền đạo của họ bắt đầu bằng những cuộc tàn sát. Theo lời những cuốn nhật ký hành trình của họ, thì: “… Và cuốĩ cùng, Đức vua (là người vẫn hằng thưởng công huân những công cuộc làm rạng rổ uy danh của Ngài), đã giúp cho những bầy tôi trung thành của Ngài chiến thắng được kẻ thù. Ngài đã ban danh vọng đế đáp lại công lao của chúng ta, đã trả các khoản chi phí của chúng ta và nhờ Ngài chúng ta đã bắt được 165 người vừa đàn ông, đàn bà và trẻ con, chưa kề một sô’ đông bị giết và bị thương”.
Những kẻ di chinh ) ngoan đạo đó đã tạo thành một thứ thói tục.
Trong bản kê những của cải tịch thu được của những người Giêduýt[1] [2] Braxin, năm 1768 thì ngoài những cây thập tự cứu thế và những đồ thờ khác ra, còn có những con dấu bằng sắt dùng để đánh dấu lên mặt người nô lệ.
Trong một thời gian dài, các hội “truyền bá đạo Kitố của người Anh đã lấy việc buôn nô lệ làm nguồn lợi cho việc thờ phụng truyền giáo của họ.
Ngày 12 tháng 2 năm 1835, giáo hội độc lập của Giáo khu Crít Sốcsơ (Nam Carôlin) đã đăng báo quảng cáo rằng giáo hội sắp đem bán một món hàng từ 10 nô lệ đã quen việc trởng bông. Thật người ta có thể kể ra không biết bao nhiêu sự việc như thế.
Những giáo hội ồ Bắc Mỹ đều là những kẻ thù kiên quyết nhất chống việc xoá bỏ chế độ nô lệ.
BỌN VUA CHÚA
Từ Sáclơ Canh cho đến Lêôpôn đệ nhị, vua Bỉ, từ bà Nữ hoàng đức hạnh của nước Anh là Êlidabét cho đến Napôlêông, tất cả cái bọn người ngồi trên ngai vàng ấy đều buôn bán người da đen. Tất cả bọn vua chúa đi chiếm thuộc địa đều đã ký những hiệp ưốc và đã cho phép độc quyền kinh doanh thịt người da đen.
“Ngày 27-8-1701, Đức vua Tây Ban Nha rất ngoan đạo, và Đức vua Pháp rất ngoan đạo đã cho Công ty hoàng gia ồ Ghinê được độc quyền trong 10 năm chồ những người da đen trong các thuộc địa châu Mỹ… đê nhân đó mà cả bọn vua tôi đều kiếm được những món lợi lớn…”.
“Đức vua Anh nhận trách nhiệm đưa vào đất Mỹ thuộc Tây Ban Nha 144.000 người da đen, cả nam lẫn nữ, đủ các lứa tuổi, với giá tiền mỗi đầu người là 33 đồng êquy và 1/3 đồng…”.
BỌN BUÔN NGƯỜI DA ĐEN
Năm 1824, một chiếc tàu buôn người da đen vừa lấy những người da đen từ bờ biến châu Phi để đưa đi Ăngtiơ, thì bị một tuần dương hạm đuổi theo. Trong khi đuổi theo, người ta thấy có nhiều chiếc thùng trôi lềnh bềnh gần tuần dương hạm. Người ta tưỏng rằng chiếc tàu buôn người da đen đã vứt bỏ những thùng nước xuống cho nhẹ bốt để dễ chạy trốn. Nhưng khi đã cặp sát được chiếc tàu rồi, thì người ta nghe thấy tiếng rên rỉ trong một chiếc thùng đế trên boong tàu: mồ ra thấy hai người đàn bà da đen gần bị chết ngạt. Té ra chiếc tàu buôn người da đen đã nghĩ được cách đó đê cho nhẹ bốt tàu.
Một chiếc tàu Anh cứu được một chiếc tàu buôn người da đen bị đắm. Người ta cứu cả những người da đen lẫn thuỷ thủ trên tàu. Nhưng đến khi thấy thiếu lương thực, người ta liền quyết định hy sinh những người da đen. Người ta bắt họ sắp hàng trên boong tàu, rồi dùng hai khẩu súng lớn bắn họ một cách không thương xót gì cả.
TÌNH CẢNH NHỮNG NGƯỜI NÔ LỆ
Những người da đen bị bắt đều bị buộc cổ, buộc tay, buộc chân với nhau, thành từng đôi một. Rồi người ta lại dùng một cái xích dài buộc thành từng chuỗi 20 hay 30 người một. Trói như thê rồi, người ta dong họ ra tận bến tàu. Người ta nhét họ chồng chất vào trong hầm tàu chật chội, tối om và nghẹt thồ. Đê “bảo đảm vệ sinh”, người ta dùng roi quật họ tối tấp như mưa để bắt họ phải nhảy nháo lên mỗi ngày vài lần. Đê hòng được rộng chỗ, thưòng thường là, đàn ông bóp cố lẫn nhau, và đàn bà thì dùng đỉnh đâm thủng trán những chị bên cạnh. Những người Ốm bị coi là hàng hoá đã hư hỏng không bán được, bị quang xuống biến. Khi biến động, người ta ném người da đen xuống biến đê cho nhẹ tàu. Nói chung khi tàu cặp bến thì một phần tư chuyến hàng da đen đã chết gục vì bệnh truyền nhiễm hay chết ngạt. Những người nô lệ còn sống sót bị đem đóng dấu và đánh số bằng sắt nung đỏ như súc vật vậy, người ta đếm họ bằng tấn, bằng “kiện” chứ không phải bằng đầu người. Thí dụ như Công ty Bồ Đào Nha ồ Ghinê, năm 1700 đã ký một hợp đồng là sẽ cung cấp 11.000 “tấn” người da đen.
Hơn 15 triệu người da đen đã bị chỏ sang Mỹ trong những điều kiện như vậy, độ 3 triệu đã chết dọc đường hay bị ném xuống biển. Còn những kẻ vì chống cự hay nổi loạn mà bị giết thì không kế… Lối buôn bán nhơ nhuốc đó chấm dứt vào khoảng năm 1850 đế nhường chỗ cho một hình thức nô lệ khác phổ biến hơn là: chế độ thực dân.
CHẾ ĐỘ THỰC DÂN
Những hiện tượng tàn khốc mà chúng tôi sắp kế ra đây, nếu không phải là đã được chứng minh bằng những tài liệu không thế chối cãi được, nếu không phải chính những người Âu kể lại, thì người ta khó mà tin được.
Một nhà buôn Pháp ở Mađagátxca thấy trong két bạc của hắn bị mất trộm, đã dùng điện tra tấn nhiều người bản xứ làm cho hắn mà hắn ngò là đã lấy trộm. Sau đó ít lâu, người ta phát hiện ra rằng chính con hắn đã lấy.
Một viên quan cai trị thuộc địa đã bắt một chị người da đen đội một hòn đá lớn đứng suốt ngày ngoài nắng chang chang. Rồi hắn sai đem trói chị lại và sai đổ cao su nóng bỏng vào bộ phận sinh dục của chị.
Một tên thực dân nọ nổi giận vì không thể bắt hai người đầy tố bản xứ của hắn làm công không, đã đem trói hai người đó vào cọc, giội dầu hoả lên và thiêu sông.
Những tên thực dân khác đem nhét mìn vào mồm hay hậu môn những người da đen và đốt cho nổ.
Một viên chức kia khoe là một mình hắn đã giết 150 người bản xứ, chặt 60 bàn tay, đóng trên cây thập tự rất nhiều đàn bà và trẻ con, và treo rất nhiều xác người đã bị vằm lên tưòng các làng mà hắn được trao cho cai trị. Một công ty khai khẩn đồn điền nọ đã làm chết người lao động bản xứ tại riêng một đồn dien của nó.
Trường hợp ngoại lệ, cá biệt ư? Không phải. Đó là tục lệ của họ. Nhưng chúng ta hãy kể một vài tội ác giết người hàng loạt mà người ta không thể đổ tại bản tính dã man của một vài cá nhân nào cả, nhưng là những tội ác mà toàn bộ chê độ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử.
Một nhà văn Pháp kể lại: “Trong xứ Angiêri của chúng ta ồ sát bãi sa mạc, tôi đã thấy như sau: Một hôm, binh lính bắt những người Arập chẳng mắc tội tình gì ngoài cái tội đã trôn tránh sự tàn bạo của những kẻ đã chinh phục họ. Viên quan năm ra lệnh đem giết ngay không cần điều tra, xét xử gì cả. Và đây là điều đã xảy ra… Họ bị bắt tất cả là 30 người. Người ta đào 30 hô ồ bãi cát rồi đem chôn họ xuống đến cổ, trần truồng, đầu cạo trọc, dưới trời nắng giữa trưa. Đe giữ cho họ không chết ngay, thỉnh thoảng người ta lại đem nước tưối như tưối cải bắp… Nửa giờ sau, mi mắt họ sưng húp lên, con mắt lời ra. Lưõi sưng vù lên đầy cả cái miệng mỏ há hốc trông thật khủng khiếp… rồi da nứt ra, trán thì vàng lên như thịt lợn quay…”.
Một bộ tộc ở Băngghi không thề cung cấp được đủ số cao su cho đồn điền. Đồn điền này muốn buộc họ phải nộp cho đủ số thiếu, liền bắt 58 phụ nữ và 10 trẻ em giữ làm con tin. Những con tin này bị nhốt vào chỗ thiếu không khí, thiếu ánh sáng, thiếu ăn và ngay cả nước uống cũng thiếu nữa. Thỉnh thoảng người ta lại đến đánh đập họ. Theo bọn thực dân nói thì tiếng kêu la của họ dùng đê thôi thúc công việc. Sau ba tuần chịu đau đốn khốc liệt, 58 phụ nữ và 2 trẻ em chết.
Năm đó hạn hán. Mùa màng mất cả. Toàn vùng đó ồ châu Phi bị khôn khổ. Người ta phải ăn cỏ và rễ cây. Các cụ già chết vì đói lả. Thế mà chính phủ khai hoá vẫn cứ bắt phải nộp thuế. Những người dân đang bị hạn hán bỏ lại cho chính phủ ruộng đất, vưòn tược, nhà cửa và trôn vào núi. Viên quan cai trị đưa chó săn và lính vào truy nã và tìm thấy họ trong một cái hang. Người ta bèn hun cho họ chết.
Năm 1895, người Anh đã tàn sát 3.000 người nổi loạn đã ra đầu hàng họ.
Từ 1901 đến 1906, người Đức ít ra cũng đã tàn sát đến 15.000 dân Hererô ở Tây Phi.
Năm 1911, người Ý, trong có 3 ngày mà đã biến ngoại ô Masiya thành lò sát sinh, 4.000 người bản xứ bị giết ồ đó.
Những cuộc tàn sát đại quy mô đó được nêu lên thành nguyên tắc chính trị. Đó là chính sách giết sạch. Một chính phủ ở Cáp đã tuyên bố: “Nếu người bản xứ mà đi vào con đường không tuân lệnh và nổi loạn, thì họ sẽ bị thắng tay quét sạch khỏi nước họ, và sẽ có những dân tộc khác đến thay thê họ”.
Ngày nay, 10 năm sau cuộc chiến tranh đòi “quyền dân tộc tự quyết”, thì người Tây Ban Nha và người Pháp vẫn tiếp tục cuộc [3] xâm chiếm đẫm máu nước Marốc, dưới con mắt bao che của những kẻ tai to mặt lớn ở Hội quốc liên64.
Lịch sử việc người Ảu xâm chiếm châu Phi – cũng như bất cứ lịch sử xâm chiếm thuộc địa nào – thì từ đầu đến cuổì đều được viết bằng máu những người bản xứ.
Sau những cuộc tàn sát thẳng tay thì chính những chế độ lao dịch, khuân vác, lao động khổ sai, rượu cồn, bệnh giang mai tiếp tục hoàn thành công cuộc tàn phá của sự nghiệp khai hoá. Kết quả tất nhiên của chê độ ghê tởm đó là sự tiêu diệt giống da đen.
Kể ra thì thêm vào những sự việc đó một vài con số, cũng tốt, nhưng cũng thật là đau đốn. Người ta sẽ thấy rằng một vài tên thực dân giàu có lên nhanh chóng thì cũng đúng vào lúc dân số những miền bị bóc lột giảm bốt đi không phải là không nhanh chóng. Từ 1783 đến 1793, Công ty Livécpôn đã kiếm được chừng 1.117.700 bảng bằng cách buôn bán nô lệ. Cũng trong thời gian đó, dân sô trong vùng công ty đó đặt chân đến, đã mất đi 304.000 người. Trong 9 năm, vua Lêôpôn Đệ nhị đã bóc lột xứ Cônggô được 3.179.120 bảng.
Năm 1908, dân số xứ Cônggô thuộc Bỉ là 20 triệu, đến năm 1911, chỉ còn có 8.500.000 thôi. Trong xứ Cônggô thuộc Pháp, những bộ tộc gồm có 40.000 người mà trong 2 năm chỉ còn lại có người, nhiều bộ tộc khác không còn lấy một người.
Năm 1904, dân số Hôtentô là 20.000 người, chỉ trong 7 năm bị đô hộ, còn lại có 9.700 người.
NGUYỄN ÁI QUỐC
Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, sô 69, năm 1924.
[1] Conquistador: Chỉ những tướng tá Tây Ban Nha hồi thế kỷ XV và XVI đã đi xâm lược Trung Mỹ và Nam Mỹ.
[2] Les Jésuites: Một dòng đạo Kitô do Inga dơ Loayôla, người Tây Ban Nha, thành lập từ năm 1534, tô chức theo kiểu quân đội. Ngoài việc truyền giáo, dòng này còn có nhiều hành động rất dã man, tàn ác.
[3] Tên gọi chung những bộ lạc thuộc giống người Caíeres ở miền Đông Nam châu Phi, giữa hai con sông Lanhpôpô và Dămbedơ.










Để lại một bình luận
Hãy trở thành người đầu tiên bình luận!