Giao lưu với Ấn Độ: Văn hóa Chăm
Cơ sở văn hóa Việt Nam – Gs Trần Ngọc Thêm
GIAO LƯU VỚI ẤN ĐỘ: VĂN HÓA CHĂM
1.1. Bàlamôn giáp và ba nguồn gốc của văn hóa Chăm
Những người Ấn Độ đầu tiên đã đến Việt Nam theo đường biển ngay từ đầu Công nguyên. Dấu vết của họ có ở Óc Eo (An Giang); ở ven biển miền Trung và cả ở Lũy Lâu (Bắc Ninh). Họ mang theo cả Bàlamôn giáo và Phật giáo.
Từ khi người Chăm thoát khỏi ách đô hộ của Trung Hoa và lập quốc vào từ TK. II; liên hệ với Trung Hoa cũng hầu như không còn. Thay vào đó là sự tiếp xúc với văn hóa Ấn Độ và; do văn hóa Ấn Độ không mang theo chiến tranh; nên nó được người Chăm vui vẻ tiếp nhận. Ảnh hưởng của ấn Độ đối với văn hóa Chăm phát huy mạnh mẽ trong khoảng từ thế kỉ VII đến hết thế kỉ XV; khi quốc gia Chămpa chấm dứt sự tồn tại của mình. Trong từng ấy thế kỉ ảnh hưởng này để lại lớn đến mức nhiều người chỉ nhìn thấy những yếu tố Ấn Độ trong văn hóa Chăm.
Nói đến ảnh hưởng của Ấn Độ đối với văn hóa Chăm thì Bàlamôn giáo là yếu tố quan trọng nhất. Bàlamôn giáo (Brahmanism) hình thành trên cơ sở kinh Veđa do người Aryen từ phía tây bắc di cư tới Ấn Độ đưa vào; là tôn giáo thờ BRAHMA (nghĩa là “Đại Hồn”) – một ý niệm trừu tượng của kinh Veđa. Brahma là chúa tể các thần; nguồn gốc của vũ trụ; hiện ở ba ngôi như thể thống nhất của một bộ ba vị thần: Brahma (thần Sáng tạo); Visnu (thần Bảo tồn) và Siva (thần Hủy diệt). Sau khi đạo Phật lụi tàn trên đất ấn Độ; Bàlamôn giáo được chuyển hóa dần thành Ấn Độ giáo (Hinduism).
Nguồn ảnh hưởng ấn Độ; tuy đóng một vai trò quan trọng trong sự hình thành văn hóa Chăm; nhưng không phải là tất cả. Kế thừa di sản phong phú của văn hóa Sa Huỳnh; văn hóa Chăm còn là sự tổng hòa của cả nguồn ảnh hưởng khu vực và bản địa.
Đặc trưng điển hình của nguồn bản địa là chất lượng tính trong tính cách Chăm. Người Chăm sống trên giải đất hẹp miền Trung; giữa một bên là dãy Trường Sơn cao vút và bên kia là biển Đông sâu thẳm; một bên cực dương và một bên cực âm. Sự đối chọi đó của thiên nhiên đã tạo ra những sản vật đặc biệt (như trầm hương; vàng;…); nhưng đồng thời cũng tạo nên một miền khí hậu khắc nghiệt; đất đai hết sức khô cằn. Sống trong khung cảnh đó; con người tất phải vật lộn với thiên nhiên và; mặt khác; giành giật với các láng giềng xung quanh. Chính cuộc sống ấy đã rèn luyện cho người Chăm trong lịch sử một tính cách cứng rắn và cương nghị; thượng võ và có phần hiếu chiến.
Tuy chất dương tính có mạnh; nhưng sống trong vùng Đông Nam Á nông nghiệp; người Chăm tất yếu kế thừa ảnh hưởng của văn hóa khu vực mà đặc trưng điển hình là khuynh hướng hài hòa âm dương có phần thiên về âm tính; với triết lí âm dương trong nhận thức và tục sùng bái sinh thực khí trong tín ngưỡng.
Văn hóa Chăm bao gồm nhiều lĩnh vực; nhưng trong đó nổi bật nhất là bộ ba tôn giáo – kiến trúc – điêu khắc. Tôn giáo đóng vai trò cực kì quan trọng trong đời sống người Chăm; nó được vật chất hóa qua điêu khắc và kiến trúc.
1.2. Những đặc điểm của kiến trúc Chăm
Nói đến văn hóa Chăm không thể không nói tới các tháp Chăm. Tháp Chăm đứng sừng sững uy nghi trước sóng gió; chúng có mặt rải rác từ ven biển lên đến Tây Nguyên; suốt dọc miền Trung từ Bắc vào Nam – khắp những nơi có người Chăm cư trú. Thống kê cho biết hiện còn 19 khu tháp với 40 kiến trúc lớn nhỏ. Số lượng các phế tháp do bom đạn tàn phá và hủy diệt là chưa thể xác định được. Theo khảo sát và thống kê của H. Parmentier vào năm 1904-1909; riêng lòng chảo Mĩ Sơn (Quang Nam) đã có tới trên 70 kiến trúc.
1.2.1. Tháp Chăm được thừa nhận về độ tinh tế. B. Groslier (1961) từng nhận xét: “Về cấu trúc; tháp Chăm đẹp hơn các đền tháp Khmer”; sở dĩ như vậy là vì “họ (= người Chăm) giữ được ý thức về chất liệu (= gạch) và biết tôn trọng bản chất của nó; trong khi đó; người Khmer có xu hướng dựng lên một khối bằng bất cứ vật liệu nào rồi chạm khắc lên đó. Nghệ thuật kiến trúc Chăm cân bằng; có nhịp điệu và sáng sủa hơn; nó tạo cho tháp Chăm một vẻ đẹp không thể bỏ qua”. Từ những thế kỉ V-VI; sử sách Trung Hoa đã phải công nhận người Chăm là bậc thầy trong nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc gạch (Ngô Văn Doanh; 1994).
1.2.2. Về cấu trúc quần thể; tháp Chăm có hai loại: Loại thứ nhất là các quần thể kiến trúc bộ ba gồm ba tháp song song thờ ba vị thần Brahma; Visnu; Siva. Loại thứ hai là các quần thể kiến trúc có một tháp trung tâm thờ Siva và các tháp phụ vây quanh. Loại này thường xuất hiện muộn hơn (khoảng từ thế kỉ IX); có những nơi trước vốn là quần thể kiến trúc bộ ba; đến khi tu chỉnh đã được chuyển thành loại quần thể có một tháp trung tâm.
Như vậy; qua sự phát triển của cấu trúc quần thể tháp; ta thấy quá trình du nhập Bàlamôn giáo từ Ấn Độ vào Chămpa đã đi qua ba bước: a) ở ấn Độ; Brahma được coi là chúa tể (vì vậy mà gọi là “Bàlamôn”); b) vào Chămpa (giai đoạn I); cả ba vị thần đều dược coi trọng như nhau (tháp bộ ba); c) sang giai đoạn II; người Chăm suy tôn Siva thành chúa tể (cụm tháp có một trung tâm thờ Siva). Nguyên nhân của sự chuyển hướng này chính là do chất dương tính trong tính cách bản địa của văn hóa Chăm. Như thế; thực chất; người Chăm đã biến Bàlamôn giáo thành SIVA Giáo.
1.2.3. Vai trò của yếu tố bản địa còn thấy rõ qua hình dáng tháp. Do bắt nguồn từ một loại kiến trúc Bàlamôn giáo Ấn Độ gọi là silkhara (có nghĩa là “đỉnh núi”; biểu tượng cho ngọn núi thần thoại Mêru); phần lớn tháp Chăm đều có dạng hình ngọn núi; trên các tầng có thể có các tháp con ở góc (hình 6.1) ứng với các ngọn núi nhỏ. Tuy hình núi có nguồn gốc từ dãy Mêru truyền thuyết của ấn Độ; nhưng với người dân Chăm; chúng lại là biểu tượng cho thiên nhiên miền Trung trùng điệp núi non và; do vậy; phản ánh đúng chất dương tính trong tính cảm bản địa của văn hóa Chăm (núi = dương).
Chất dương tính bản địa này còn bộc lô đặc biệt ở những tháp mô phỏng hình sinh thực khí nam (biến thể của tháp hình núi) mà lát cắt bổ đôi cho thấy rất rõ (hình 6.2). Bên cạnh tháp chính hình ngọn núi; ta còn có thể gặp những kiến trúc phụ có mái cong hình thuyền (hình 6.1) – dấu hiệu đặc thù trong kiến trúc nhà của của cư dân Đông Nam Á (xem V-§3.2). Đến đây; kiến trúc đền tháp Chăm mang đậm thêm ảnh hưởng của văn hóa khu vực.
1.2.4. Về chức năng; hầu hết tháp Chăm đều mang tính chất lăng mộ thờ vua (ta theo hình thức mà gọi là “tháp”; nhưng người Chăm thì gọi chúng là Kalăn; có nghĩa là “lăng”). Ngoài chức năng lăng mộ thờ vua; tháp Chăm còn là đền thờ thần bảo trợ của nhà vua. Chính vì chức năng lăng mộ và đền thờ nên nội thất tháp Chăm rất chật hẹp; nó chỉ đủ chỗ cho các pháp sư hành lễ chứ không phải là nơi cho tín đồ hội tụ và cầu nguyện.
Như vậy; từ chỗ vay mượn dạng sikhara Ấn Độ; tháp Chăm đã đi đến chỗ hòa quyện trong mình khá nhiều sáng tạo mang dấu ấn ảnh hưởng của tính cách bản địa Chăm và văn hóa nông nghiệp khu vực.
1.3. Những đặc điểm của điêu khắc Chăm
1.3.1. Trong tháp Chăm; vị thần được thờ phổ biến nhất là SIVA và vật thờ phổ biến nhất là LINGA. “Linga” có nghĩa là sinh thực khí nam. Bởi lẽ cùng có bản chất DƯƠNG TÍNH; sinh thực khí nam và thần Siva được đồng nhất với nhau. Do vậy; thờ linga cũng tức là thờ thần Siva. Điều này phù hợp với khuynh hướng suy tôn Siva làm vị thần chúa tể trong quá trình phát triển của tháp Chăm.
Thờ sinh thực khí (xem IV-§13.1) là tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp; càng nông nghiệp điển hình bao nhiệu thì tín ngưỡng này càng mạnh bấy nhiêu. Người du mục không có truyền thống thờ sinh thực khí; kinh Veda nói rằng những kẻ lấy linga làm thượng đế là kẻ thù của đạo giáo Aryen. Ở Ấn Độ; việc thờ sinh thực khí vốn là tín ngưỡng của thổ dân Dravidien; sự xâm nhập của nó vào Bàlamôn giáo và việc đồng nhất Siva với linga chắc hẳn đã xảy ra vào thời kỳ hậu Veda.
Chămpa nằm trong khu vực nông nghiệp; nghĩa là trước khi Bàlamôn giáo xâm nhập; đã có tục thờ sinh thực khí rồi. Đây lại là vùng mang tính cách thiên về dương tính; cho nên dễ hiểu là tục thờ sinh thực khí nam sẽ phổ biến hơn. Về hình dáng; linga Chăm có ba loại:
1) Loại Linga đơn giản nhất chỉ có một thành phần hình trụ tròn; có khi gặp dựng thành hàng cả hàng chục cái (hình 6.3). Loại này mang đậm nét tính cách bản địa Chăm.
2) Loại linga thứ hai có cấu tạo hai phần. Phần trên vẫn hình trụ; phần dưới là một vật thể to tròn – ta gọi là biến thể 2A (hình 6.4 trái) hoặc vuông – ta gọi là biến thể 2B (hình 6.4 phải). Trong biến thể 2A; phần to tròn ở dưới mô phỏng cái cối giã gạo; toàn bộ linga mô phỏng bộ chày cối – biểu tượng tín ngưỡng phồn thực điển hình của cư dân Đông Sơn (xem IV-§1.1).
Ở biến thể 2B; cái cối được thay thế bằng hình vuông mang tính cách biểu tượng: tròn vuông là hình ảnh điển hình của triết lí âm dương. Như vậy; ở loại linga hai phần này không chỉ có chất dương tính của tính cách bản địa Chăm mà còn có cả chất âm tính; nó là một tổng thể âm dương hài hòa – dấu ấn rất rõ ràng của truyền thống văn hóa nông nghiệp khu vực.
3) Loại li nga thứ ba có cấu tạo ba phần. Ngoài phần hình trụ tròn ở trên và phần hình vuông ở dưới; loại linga này còn có một đoạn hình bát giác ở giữa (hình 6.5 trái). Cấu trúc ba phần này phản ánh ảnh hưởng triết lí Bàlamôn giáo Ấn Độ: Phần hình vuông (âm tính) ở dưới ứng với thần Brahma sáng tạo; khúc hình bát giác ở giữa là đoạn chuyển tiếp ứng với thần Vishnu bảo tồn; còn phần hình trụ tròn dương tính) ở trên ứng với thần Siva hủy diệt. Một biến thể của loại này có dạng 4 phần về hình thức nhưng về cấu trúc cũng chỉ có 3 mà thôi (hình 6.5 phải).
Trong loại hai và ba phần; phần hình vuông âm tính ở dưới gọi là yoni (sinh thực khí nữ). Đáng chú ý là linga trong những trường hợp này đã không còn là “sinh thực khí nam” nữa; song nó vẫn cứ được gọi là “linga” (theo nghĩa rộng). Như vậy thấy rằng chất dương tính – tính cách bản địa Chăm – đã lấn át như thế nào.
Ngoài các linga thông thường; trong đền tháp Chăm còn có thể gặp loại linga hình mặt người (gọi là mukhalinga; hình 6.6). Đó là một khối tượng hình linga đặt trên một yoni mà nửa phần trước tạc tượng hình vua Chăm. Sự đồng nhất “Siva (thần Ấn Độ) = Linga (tín ngưỡng phồn thực khu vực) = Vua (lãnh tụ dân tộc Chăm)” trong mukhalinga khiến cho sự hòa quyện ba yếu tố bản địa – khu vực – Ấn Độ trên cơ sở tính cách bản địa dương tính đã đạt đến mức nhuần nhuyễn.
1.3.2. Dòng dương tính và chất bản địa này không chỉ thể hiện bằng vô số tượng linga; mà còn thể hiện qua việc thờ Siva. Trong số tượng hình người thể hiện ba vị thần thì tượng Siva chiếm đa số. Ở nhiều pho tượng Siva; chất ngoại lai chỉ còn nơi tên gọi; vị thần được tạc hoàn toàn là một người Chăm. Để nhấn mạnh tính cách dương tính; nhiều pho tượng Siva được tạc ở tư thế ngồi; tay cầm li nga (hình 6.7). Không chỉ thần dạng người; mà cả thần voi Ganesa tay cũng cầm linga (hình 6.8). Thậm chí không chỉ nam thần; mà cả nữ thần hai tay cũng cầm hai li nga nữa (hình 6.9)!
Chất dương tính còn thể hiện cả trong những tượng phụ nữ thông thường như tượng vũ nữ ở Trà Kiệu (Quảng Nam) – một pho tượng vào loại đẹp nhất của điêu khắc Chămpa (hình 6.10).
Tượng tạc hình một cô gái với đầy đủ những đặc trưng nhân chủng Chăm (mặt vuông; mắt xếch; môi dày). Nhờ lối trang phục gần như khỏa thân; tượng thể hiện cái đẹp phụ nữ một cách dương tính; trực diện: bầu vú căng tròn; cặp đùi thon; hông rộng; cổ tay tròn lẳn;..
Động tác múa tạo nên một hình khối rất cân đối và chặt chẽ: Nửa thân dưới và hai chân khụy xuống khuỳnh rộng đưa sang trái: nửa thân trên và tay trái chìa xuống dưới đưa sang phải: đầu và tay phải co lại giơ lên cao đưa sang trái để trả lại thế quân bình. Động tác đổi hướng ấy vừa uyển chuyển vừa đầy sức mạnh. Sở dĩ như vậy là vì cái đẹp của ảnh khối đó chính là cái đẹp của một thế võ: chân khuỳnh là thế đứng tấn; một tay che bên dưới là để tự vệ; tay kia co lại đưa lên cao là để chuẩn bị tấn công.
1.3.3. Bên cạnh dòng dương tính sục sôi với những linga; những Siva và những thế võ thì trong văn hóa Chăm lại còn có một dòng ÂM TÍNH mạnh mẽ không kém với những bầu vú căng đầy; những tượng và hình tượng mẫu thần của quê hương xứ sở.
Những bầu vú căng đầy không chỉ được thể hiện trên ngực tượng các vũ nữ Chăm; chúng còn được tạc thành từng dãy vú trang trí bao quanh các bệ tượng (hình 6.11). Đó chính là biểu tượng của nữ thần Uroja (nghĩa là “vú phụ nữ”) hay Pô Ina Nưgar – bà chính là Mẹ Quê hương xứ sở; là Quốc Mẫu của người Chăm (Pô = ngài; Ina = mẹ; Nưgar = xứ sở). Người Chăm thờ Quốc Mẫu (Pô Ina Nưgar) của mình ở tháp Bà (Nha Trang) dưới hình ảnh phồn thực của một bà mẹ bản địa với bụng thon; vú căng tròn.
Cho dù Ấn Độ vốn theo phụ hệ thì xã hội Chăm từ xưa đến nay vẫn là mẫu hệ. Những ảnh hưởng của Bàlamôn giáo Ấn Độ không hề thay thế nếp tôn vinh người phụ nữ – NGƯỜI MẸ trong truyền thống văn hóa ngàn đời của người Chăm và cư dân nông nghiệp Đông Nam Á. Ngày nay; ta vẫn gặp khắp nơi những Pô Ina Nưgar Humu Amm (Mẹ Xứ Rừng) ở Phan Rang; Pô Ina Nưgar Humu Cavat (Mẹ Xứ Chim) ở Ninh Thuận; Pô Ina Nưgar Humu Chanok (Mẹ Xứ Chài) ở Bà Rịa; Pô Ina Nưgar Yathan (Mẹ Xứ Lau) ở Nha Trang; Thiên Yana Thánh Mẫu (Mẹ Trời) ở điện Hòn Chén (Huế); Bà Chúa Xứ ở núi Sam (Châu Đốc)…
Sự tồn tại song song của hai dòng âm và dương tính này làm ta liên tưởng đến sự đối chọi của thiên nhiên miền Trung giữa một bên là dãy Trường Sơn dương tính cao vút vời bên kia là biển Đông âm tính sâu thẳm.
1.4. Sức mạnh bản địa hóa ảnh hưởng Bàlamôn giáo
Như vậy; trong ba nguồn gốc của văn hóa Chăm; nguồn ảnh hưởng ấn Độ có vẻ nổi bật nhất về hình thức; nhưng về thực chất thì nguồn bản địa và khu vực mới giữ vai trò quan trọng. Thực tế; có lẽ phần lớn người Chăm bình dân không hề biết đến các triết lí Bàlamôn giáo cùng các vị thần; các truyền thuyết Ấn Độ xa lạ. Đó là việc của các tu sĩ Bàlamôn. Tu sĩ Bàlamôn thì chỉ đạo xây đền; tạc tượng theo những khuôn mẫu ấn Độ; còn người nghệ sĩ dân gian thì xây và tạc theo cảm hứng và những khuôn mẫu truyền thống của nhân dân mình.
Từ chỗ cả ba vị thần Bàlamôn đều được dựng tháp thờ khi mới du nhập; dần dần chỉ còn một mình tháp thờ Siva được đề cao bởi lẽ Siva phù hợp hơn cả với tính cách bản địa của người Chăm. Và trong Siva muôn mặt với rất nhiều tên; chỉ có Siva dưới dạng Linga hoặc với Linga là được phổ biến bởi lẽ tục thờ cột đá vốn là truyền thống lâu đời của người nông nghiệp.
Cuối cùng; Siva thì được hình dung thành người Chăm (ngay cả con bò thần Nandin của Siva cũng được thể hiện dưới dạng con trâu quen thuộc); còn Linga thì ở chỗ này được thay bằng ông vua – anh hùng dân tộc Chăm; ở chỗ khác thì được thay bằng nữ thần Mẹ quê hương xứ sở.
Thành ra trên thực tế; thần Siva cùng bạn bè ông với những lí lịch Ấn Độ xa lạ chỉ còn tồn tại trong ý nghĩ của tầng lớp trí thức và tu sĩ Bàlamôn; đối với số đông người dân Chăm; thần Siva; tượng Lingar; v.v.; chỉ là hình thức; còn ước vọng phồn thực và lòng sùng kính các nữ thần địa phương; các anh hùng dân tộc mới là nộ dung. Đạo Bàlamôn xa lạ đã được người Chăm biến cải thành đạo BÀ CHĂM gần gũi; đạo Bà Chăm này đã thông còn là Bàlamôn giáo Ấn Độ nữa mà chỉ có thể xem như một biến thể của nó.
Ngoài đạo Bà Chăm – biến thể đạo Bàlamôn; ở Chămpa còn có cả ĐẠO HỒI (Islam). Du nhập vào Chămpa muộn hơn; với những giáo luật khắt khe vào bậc nhất; ấy vậy mà đạo Hồi cũng bị người Chăm cải biến khá nhiều.
Ở những vùng đạo Hồi du nhập trước; nó trở thành một thứ tôn giáo khác hẳn; một biến dạng của đạo Hồi với tên gọi riêng của mình là đạo Bà Ni. Khác với giáo luật: người Chăm Bà Ni tin Allah nhưng họ vẫn thờ các vị thần truyền thống của mình và khu vực như Thần Mưa; Thần Núi; Thần Biển… Lễ cắt da quy đầu (Khotan) cho con trai theo phong tục Hồi giáo nghiệt ngã được biến cải thành lễ Katat cho thiếu niên nam 15 tuổi và chỉ thực hiện một cách tượng trưng. Theo truyền thống âm dương hài hòa của văn hóa nông nghiệp khu vực; người Chăm lại đặt thêm ra lễ Karoh cho thiếu nữ đến tuổi dậy thì.
Khác với xã hội Hồi giáo coi trọng đàn ông (phụ hệ); người Chăm Bà Ni vẫn theo truyền thống coi trọng phụ nữ (mẫu hệ) trong tổ chức gia đình; trong việc cưới xin. Cũng bởi vậy mà lễ Karoh cho con gái được tổ chức trong thể hơn lễ Katat cho con trai. Lễ tang của người Chăm Bà Ni tổ chức theo tập tục Hồi giáo nhưng được bổ sung thêm bằng một loạt phong tục cổ truyền của cư dân Đông Nam Á như tục mở đường xuống âm phủ; tục ngăn ngừa sự quấy phá của vong hồn người chết; tục gửi lễ vật nhờ người chết mang xuống âm phủ cho người thân.









Để lại một bình luận
Hãy trở thành người đầu tiên bình luận!