- Quyền thừa kế được hiểu là một chế định pháp luật dân sự (chế định thừa kế) bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành quy định về thừa kế, về việc bảo vệ và điều chỉnh, chuyển tài sản của người đã chết cho những người còn sống.
Chính vì vậy khái niệm quyền thừa kế của cá nhân như sau: Quyền thừa kế của cá nhân là quyền để lại tài sản của mình theo di chúc hoặc cho những người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Trong trường hợp những người được hưởng thừa kế di sản của nhau mà chết cùng một thời điểm hoặc được coi chết cùng một thời điểm không xác định được người nào chết trước, chết sau thì những người đó không được hưởng di sản thừa kế của nhau, phần di sản của người nào sẽ do những người thừa kế của người đó hưởng.
Chẳng hạn: Ông A và bà B là vợ chồng hợp pháp có 3 người con chung là C, D và E. Cha mẹ đẻ của ông A còn sống, cha mẹ đẻ của bà B đã chết. Ông A và bà B chết trong tai nạn giao thông (chết cùng thời điểm) nên không được hưởng di sản của nhau. Do vậy, phần di sản của ông A do cha mẹ đẻ và 3 người con hưởng (5 suất), phần di sản của bà B do 3 người con hưởng (3 suất), nếu ông bà không để lại di chúc.
Thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu tiêu dùng, tư liện sản xuất,... không hạn chế về số lượng và giá trị (trừ những tài sản pháp luật quy định không thể thuộc sở hữu tư nhân). Đối với tài sản riêng của vợ hoặc chồng được xác định căn cứ vào các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình
Trong trường hợp nhiều người được thừa kế, được tặng cho một tài sản hay nhiều người cùng nhau góp vốn để cùng sản xuất kinh doanh,.... được xác định là sở hữu chung đối với tài sản. Khi một người trong các chủ sở hữu đó đối với tài sản chung này chết, thì phần tài sản của người đó trong tài sản chung này được coi là di sản thừa kế. Đối với tài sản chung hợp nhất của vợ chồng thì không phân định được phần cụ thể giữa vợ và chồng.
Trong trường hợp một bên chết trước thì việc phân chia tài sản chung căn cứ vào các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc khi một bên vợ hoặc chồng chết trước thì một nửa tài sản sẽ được xác định là di sản để chia theo pháp luật về thừa kế (trừ trường hợp xác định được công sức đóng góp của vợ hoặc chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản chung của vợ chồng).
Đối với tài sản chung giữa cha mẹ và các con tùy thuộc vào sự đóng góp cụ thể của các thành viên để xác định.
Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (Ông A chết ngày 17.01.1999 thì thời hiệu khởi kiện tính từ ngày 17.01.1999 đến hết ngày 16.01.2009). Đối với trường hợp người chết còn để lại các nghĩa vụ tài sản (nợ, bồi thường thiệt hại) thì những người thừa kế phải thanh toán trong phạm vi di sản, thời hiệu khởi kiện là ba năm kể từ thời điểm mở thừa kế (ông A chết có nợ ông B 30 triệu đồng, ông B có quyền thời kiện yêu cầu con ông A phải thực hiện nghĩa vụ là 3 năm từ thời điểm ông A chết)
Chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế. Ví dụ: trong di chúc của ông A để lại cho con trai là C được hưởng ½ di sản, truất quyền thừa kế của người con là H. Như vậy, ½ di sản của ông A được chia theo pháp luật thì H không có quyền hưởng (khoản 3 Điều 676).
Dành một phần trong di sản để di tặng, thờ cúng: di tặng là việc người lập di chúc dành một phần tài sản trong khối di sản của mình để tặng cho người khác.
Khác với người thừa kế thì người nhận di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản do người chết để lại thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người chết.
Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.
Người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ di chúc đã lập.
Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (Điều 669 BLDS).
Ví dụ: Ông A kết hôn hợp pháp với bà B và có hai người con là C và K (đã đủ 18 tuổi và có công việc ổn định). Ông A lập di chúc hợp pháp cho người cháu họ là M hưởng toàn bộ di sản là 900 triệu đồng. Vấn đề đặt ra là vợ và con của ông A có quyền gì hay không?
Trước hết phải khẳng định di chúc do ông A lập là hợp pháp, có quyền để lại di sản cho bất kỳ cá nhân tổ chức nào. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật có bà B (là vợ) phải được hưởng không phụ thuộc vào nội dung di chúc ít nhất là 2/3 suất nếu di sản chia theo pháp pháp luật. Xác định 2/3 một suất nếu di sản chia theo pháp luật (nếu ở đây chỉ để tính 2/3 suất mà thôi vì ông A đã lập di chúc). Bà B được hưởng không phụ thuộc vào nội dung di chúc là 200 triệu đồng. Chị M chỉ được hưởng theo di chúc là 700 triệu đồng (hai người con của ông A không thuộc đối tượng quy định tại Điều 669)
Di chúc phải được lập thành văn bản, nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng. Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộc mình.
Đối với di chúc bằng văn bản (di chúc viết) bao gồm các hình thức sau:
Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng, người lập di chúc phải tự tay viết và ký vào bản di chúc.
Di chúc có công chứng của tổ chức hành nghề công chứng (phòng công chứng hoặc văn phòng công chứng).
Ngày, tháng, năm lập di chúc; Họ tên và nơi cư trú của người lập di chúc; Họ tên cơ quan, tổ chức, người hưởng di sản; Di sản để lại và nơi có di sản; Việc chỉ định thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ.
Di chúc không được viết tắt hoặc bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc để tránh trường hợp tự ý thay đổi nội dung di chúc bằng việc đánh tráo các trang không có chữ ký hoặc điểm chỉ trái với ý chí của người lập di chúc.
Di chúc miệng được lập trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác (tai nạn, rủi ro,...) mà không thể lập di chúc bằng văn bản.
Phải là sự thể hiện ý chí cuối cùng của người để lại di sản trước mặt ít nhất hai người làm chứng; Hai người làm chứng ngay sau đó ghi chép lại nội dung và ký tên hoặc điểm chỉ vào bản ghi nội dung đó; Người làm chứng không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 654 BLDS.
Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày di chúc miệng thì di chúc phải được công chứng. Di chúc có hiệu lực kể từ thời điểm mở thừa kế (thời điểm mở thừa kế).
Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.
Không có di chúc (nghĩa là người có tài sản không định đoạt bằng việc lập di chúc; di chúc không hợp pháp; những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc hoặc cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Khác với thừ kế theo di chúc là dựa vào ý chí của người có tài sản, thừ kế theo pháp luật dựa vào diện và hàng thừa kế.
Diện thừa kế là pham vi những người có quyền hưởng di sản được xác định trên ba cơ sở quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng giữa người để lại thừa kế và người thừa kế.
Hàng thứ nhất: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.
Hàng thứ hai: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, các cháu nội ngoại, anh chị em ruột của người chết.
Hàng thứ ba: Cụ nội, cụ ngoại của người chết; chắt nội ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cô ruột, dì ruột, cậu ruột; cháu ruột của người chết mà người chết là chú, bác, cô, dì, cậu (ruột).
Bộ luật dân sự 2005 đã bổ sung thêm hàng thừa kế thứ hai là các cháu nội ngoại, hàng thừa kế thứ ba là các chắt nội ngoại nhằm bao quát hết các khả năng có thể xảy ra trong thực tế, bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của cháu và chắt.
* Thừa kế thế vị (Điều 677 Bộ luật dân sự)
Ví dụ: Ông A có bà người con là C, D, và E. năm 1981 anh C kết hôn với chị M sinh được hai con là K và H. Năm 1994 anh C bị tai nạn chết. Năm 2000 ông A chết sau đó những người thừa kế yêu cầu chia ngôi nhà ông A trị giá 180 triệu đồng. Trong trường hợp này vào thời điểm mở thừa kế có hai người con là D và E còn sống, còn vợ ông A và anh C đã chết trước ông A, do vậy hai con của anh C được thừa kế thế vị theo Điều 680 của Bộ luật dân sự như sau:
Di sản của ông A được chia làm ba phần, trong đó D được hưởng 60 triệu, E hưởng 60 triệu, K và H hưởng thừa kế thế vị (K hưởng 30 triệu, H hưởng 30 triệu) phần di sản mà C được hưởng nếu còn sống.
Thừa kế thế vị chỉ phát sinh trong trường hợp di sản được chia theo pháp luật. Nếu người thừa kế theo di chúc mà chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc thì di chúc không phát sinh hiệu lực và di sản chia theo pháp luật, lúc đó mới áp dụng quy định thừ kế thế vị.
Ví dụ: Ông A có hai người con và K và T, ông A lập di chúc cho anh K hưởng 200 triệu đồng. Anh K có con trai là H (cháu nội của ông A). Anh K chết trước ông A thì di chúc của ông A lập cho K không phát sinh hiệu lực pháp luật và di sản được chia theo pháp luật, trong đó anh T được thừa kế thep pháp luật 100 triệu, cháu H được thừa kế thế vị 100 triệu.
Nếu có nhiều người thừa kế thế vị nhưng chỉ được hưởng phần di sản mà cha mẹ được hưởng nếu còn sống.
Như vậy các cháu, chắt được pháp luật quy định thừa kế thế vị và thừa kế theo hàng thừa kế. Trong những trường hợp sau đây cháu nội ngoại hoặc chắt nội ngoại được thừa kế theo hàng thừa kế: Cha, mẹ chúng là người thừa kế duy nhất và còn sống nhưng từ chối nhận di sản hoặc không có quyền hưởng di sản do vi phạm các quy định theo khoản 1 Điều 643 Bộ luật dân sự 2005.