Đức Thế Tôn dạy cho chúng ta rằng để có hạnh phúc trong đời thường chúng ta phải sống làm sao để tạo phước lành, phúc lành
HẠNH PHÚC V
Pubbe ca katapuññatā
Tánh cách người có việc lành để dành trong kiếp trước
Câu này dạy rằng người đã làm phước trong kiếp trước, ngày hôm nay được thọ hưởng phước ấy.
Khi được lợi lộc hay thoát khỏi một tai nạn, người ta cho rằng đó là sự tình cờ, hay là sự may mắn. Thật ra, đó là quả báo của việc lành mà người ấy đã làm trong nhiều kiếp trước. Người có ít nhiều tâm đạo cho rằng đó là phước.
Phước là gì? Phước là những lạc thú ở đời, như giàu sang quyền tước, danh vọng v.v... Theo quan niệm thông thường, nếu đem phước ra phân tách thì thấy có ba nhân tố:
Có ba nguyên nhân sanh phước:
- Tâm trong sạch.
- Ba cửa (thân, khẩu, ý) thanh tịnh.
- Tâm không rung động, nghĩa là kinh sợ tội lỗi.
Trong kinh Pháp Cú có chuyện ông Mattha-kundali là con của một ông trưởng giả có tiếng là keo kiệt nhất trong xứ. Khi ông Matthakundali bệnh, ông trưởng giả không rước thầy xem bệnh cho thuốc, mà ông đi hỏi bệnh thế này uống thuốc gì? Các thầy biết ông ta bỏn xẻn, keo kiệt nên ghét, chỉ thuốc căn không đúng căn bệnh, làm cho con ông càng ngày càng đau nặng. Ông trưởng giả thấy con bệnh nặng, sợ để trong nhà quyến thuộc đến thăm tốn kém này nọ, nên ông đem con ông nằm ngoài hiên.
Vì ông Matthakundali là người tạo nhiều duyên lành để dành từ kiếp trước, nên đêm ấy Đức Thế Tôn dùng tuệ xem ai có duyên để Ngài độ. Đức Thế Tôn thấy ông Matthakundali có duyên, nên sáng ngày, Đức Phật ngự đến ngay trước nhà của ông trưởng giả để độ con ông. Nhưng ông Mattha-kundali lại nằm quay mặt vào vách nên không thể thấy Phật được. Đức Phật lại hiện hình trên vách, ông Matthakundali trông thấy Đức Thế Tôn tướng hào quang minh, ông lấy làm trong sạch và nghĩ rằng: "Ta vô phước sanh làm con của người keo kiệt không được làm việc lành. Hôm nay không thể đưa tay lên được làm sao làm lễ Phật. Thôi chỉ có lấy lòng kính Phật, xin làm lễ Đức Chí Tôn".
Khi ông nghĩ xong thì tắt hơi, được sanh về cõi trời nhờ tâm ông trong sạch.
Theo đây tôi xin nhắc tích của Đại đức Yassa, người đã biết ghê sợ trước những xác thân mỹ miều.
Sau khi chuyển Pháp Luân tại vườn Lộc Giả Bārānasī, Đức Thế Tôn tạm ở với năm anh em Kiều Trần Như. Lúc ấy tại thành Bārānasī có người tên Yassa, con của một vị trưởng giả cưng như viên ngọc quý, cất trong ba tòa lầu để trong ba mùa, ngày đêm yến tiệc linh đình, tiếng ca hát không bao giờ dứt. Đêm nọ, Yassa đang xem mỹ nhân múa hát, ông phát chán rồi bỏ đi ngủ. Khuya lại ông tỉnh giấc, thấy những mỹ nhân đang ngủ, mồ hôi xông ra mùi khó thở, có cô nước miếng chảy ra, có cô ngáy om sòm, ông cảm thấy đó là những tử thi và ông tưởng đang đứng giữa bãi tha ma. Ông lấy làm kinh sợ và thốt rằng: "Thế gian này bẩn thỉu quá!", ý ông muốn nói thế gian này toàn là những vật nhơ nhớp, người bị nhốt trong vòng tỏa của sự đau khổ, không biết nương tựa vào đâu được.
Rồi ông bỏ lầu ra đi về hướng vườn Lộc Giả. Đức Thế Tôn biết duyên lành của ông đã đến, nên ngồi chờ ông tại một nơi. Nơi đó ông vừa đi vừa lập lại câu: "Thế gian này bẩn thỉu quá!" Đức Thế Tôn gọi Yassa và nói rằng: "Đây không bẩn thỉu, không bực bội, ngươi hãy đến đây." Ông Yassa mới đến gần và đảnh lễ Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn mới thuyết về Anpubbikathā cho ông nghe. Sau khi nghe xong thời pháp, ông đắc quả Tu Đà Hườn, đến sáng ngày ông đắc quả A La Hán. Sau 5 thầy Kiều Trần Như, ông là vị A La Hán thứ sáu trong Phật Giáo.
Nhân đó, Đức Phật dạy cho đệ tử nghe rằng: Kiếp trước, ông Yassa là người làm nghề thiêu tử thi. Có ngày nọ ông thiêu tử thi của một người đàn bà có thai. Khi đốt tử thi cháy, ông thấy đứa trẻ lòi ra trông rất ghê tởm. Ông phát tâm chán sợ ve sự nhơ nhớp của xác thân. Đó là cái nhân, đến kiếp này ông thấy mỹ nữ là những tử thi.
Đây tôi xin nói tóm về pháp Anpubbikathā của Đức Phật đã thuyết cho Đại đức Yassa là pháp hành theo tuần tự 5 điều:
- Dāna: Dạy về bố thí.
- Sīla: Dạy về trì giới.
- Sagga: Dạy về an vui trong cõi trời.
- Kāmādinava: Dạy về tội của ngũ trần.
- Nekkhammanisansa: Dạy về cái quả của sự xuất gia.
Sỡ dĩ pháp đó gọi là pháp đi theo tuần tự là vì trước hết Đức Phật dạy về bố thí, rồi bậc thứ nhì là trì giới, sau Ngài mới theo về sự an lạc cõi trời, tiếp theo là nói đến cái hại của sự ngũ trần là nhân làm cho người đi theo từng bậc thấp đến cao mà không hay.
Nếu ta hành được pháp tuần tự đó thì tạo được nhân sanh phước và ta tạo được phước lành để dành trong kiếp trước, thì chắc chắn chúng ta sẽ được hưởng phước trong ngày vị lai.
Có người hỏi: Có ai cướp được hạnh phước báu của ta chăng?
Đức Thế Tôn dạy: Phước ấy theo ta như bóng với hình, không ai có thể trộm cướp hay cưỡng bách hoặc làm mưu kế gì để giựt phước ấy được, chẳng khác gì hạt ngọc Siri trong sự tích sau đây:
Khi Đức Thế Tôn còn tại thế, ông trưởng giả Cấp Cô Độc làm phước bố thí cho đến khi nghèo. Ông làm chùa Kỳ Viên, mua vườn xoài nhà vua bằng cách trải vàng đầy mặt đất. Vì vậy chùa Kỳ Viên cũng có tên là Bố Kim Tự. Ngoài ra ngài còn làm phước bố thí nhiều không kể hết. Ông làm phước đến đói nghèo. Nhưng về sau ông giàu trở lại.
Có thầy Bà la môn tìm hiểu xem tại sao ông giàu, rồi làm nghèo, trở lại giàu, thầy Bà la môn thấy trên đầu một con gà trống ở nhà ông trưởng giả có viên ngọc Siri. Thầy liền đến xin con gà ấy và thầy tin chắc rằng ông trưởng giả ấy sẽ cho vì thầy viện lẽ rằng, nhà thầy có gà, nhưng toàn là gà gáy sai canh, cần một con gà gáy đúng canh để học trò dậy học bài. Ông trưởng giả vốn là người giàu lòng bố thí thì con gà đối với ông không có nghĩa lý gì, nên ông cho liền. Khi ông trưởng giả bằng lòng cho con gà thì ngọc Siri lại bay qua đậu trên cây gậy của ông trưởng giả: thầy Bà la môn xin luôn cây gậy, ông cũng cho, thì Siri bay lên đậu trên đầu của bà trưởng giả.
Chừng ấy thầy Bà la môn mới thú nhận: "Tôi xin trả lại con gà trống trắng và cây gậy lại cho ông. Thật ra tôi thấy ngọc Siri của gia đình ông ở trên đầu con gà, nên tôi mới xin nó, không dè ngọc Siri lại bay đậu trên cây gậy của ông, rồi tôi xin cây gậy thì ngọc Siri ấy lại bay đậu trên đầu bà. Ngọc Siri thật là quí mà không ai lấy được".
Vậy khi có phước thì không ai làm thế nào cướp lấy được phước của ta. Muốn ta tạo ra phước có ba cách phải hành:
- Bố thí để trừ tham lam.
- Từ bi để diệt lòng sân hận.
- Tham thiền theo hai pháp: Chỉ quán và Minh sát, để trừ si mê và tà kiến.
Nhưng phải hành ba pháp đó bằng tâm trong sạch, sốt sắng, quyết định, thì quả phước đó đến cho ta mau lẹ. Trái lại, nếu ta làm chần chừ dãi đãi, dụ dự thì quả lành cũng đến chậm chạp. Lẽ cố nhiên, mỗi khi ta muốn làm một việc gì quấy, thì cả trăm tâm ác xô đẩy xúi giục ta mau mau thi hành việc quấy ấy, có khi ta muốn làm lành như bố thí, thì hằng ngày cái tâm ác kéo lại không cho ta thực hành.
Phước đem lại cho ta rất nhiều lợi ích và an lành cho ta như là:
Phước còn đem lại cho ta nhiều hạnh phúc như là vật thực trong đời vị lai của người chưa đi đến Niết Bàn.
Phước là nguyên nhân cho người được ba điều an lạc là Nhân, Thiên, và Niết Bàn.