Để có hạnh phúc trong đời thường, chúng ta phải gần gũi, thân cận với người tốt. Phật dạy rằng để chúng ta có hạnh phúc trong đời thường. Chúng ta phải thân cận với bậc thiện trí thức.
HẠNH PHÚC II
Paṇḍitānañca sevanā
Thân cận với bậc thiện trí thức
Thiện trí thức là người tương phản với người ác. Trí thức mà chúng ta thường hiểu có hai hạng khác nhau là:
Theo Phật giáo bậc trí thức là bậc có thiện tâm, không phạm vào thập ác, mà có những thái độ như lời Phật dạy trong bộ Pháp Cú Kinh:
Ditthe dhamme ca yo attho
Yo attho samparayiko.
Atthabhisamaya dhiro
Panditoti pavuccati.
Nghĩa là: "Người hiểu lợi ích đời hiện tại, lợi ích đời vị lai và lợi ích cao quí nhất, đó là trí thức".
Hiểu lợi ích đời hiện tại là không hành theo tà pháp, không làm trái luật của chính phủ, không làm phiền người bên mình, tức là thọ trì giới luật của Phật.
Hiểu lợi ích của vị lai là hiểu rằng đời không bền vững, của không đem theo được xuống mồ, nên không bỏn xẻn, ích kỷ, dám đem tiền của ra giúp đỡ người đời, bố thí cho nhân loại được nhờ.
Hiểu lợi ích cao quí nhất là do tu hành theo Giới-Định-Tuệ trong kiếp hiện tại này để mau giải thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi.
Lời Phật dạy đó có thể giải một cách thiết thực để chúng sanh tuân hành trì cho đúng bậc thiện trí thức. Bậc thiện trí thức theo Phật ngôn đó phải:
- Phân biệt lẽ phải, lẽ trái.
- Làm phước (bố thí).
- Hiểu rõ nguyên nhân sanh lợi và nguyên nhân sanh tai hại.
Hơn nữa bậc trí thức còn thực hành theo bốn điều lợi ích khác là:
Ngoài ra bốn điều lợi ích kể trên, người gọi là trí thức còn phải có hành theo những pháp sau đây:
Trong bộ Chú giải 38 sự Hạnh phúc còn có dạy rằng: phàm người trí thức còn có mười đặc ân để chúng sanh nhận thức được là:
Khi thân cận với các bậc trí thức, phải thực hành như thế này thì mới có kết quả:
Sự thân cận với các bậc trí thức có những kết quả sau đây:
Sự thân cận với các bậc trí thức thật là hữu ích, mặc dù chỉ gần các ngài trong một giờ thôi.
Các bậc trí thức ở nơi nào đều đem sự an lành đến nơi ấy. Hơn nữa, các bậc trí thức thường tùy thời cứu nguy cho kẻ khác, như tích của bà hoàng hậu Mallikā, vợ vua Ba Tư Nặc có giải trong bộ kinh Pháp Cú, quyển ba, như sau:
Đêm nọ, đức vua Ba Tư Nặc nghe bốn tiếng la thật to là: "Du, Sa, Na, So", làm ngài lấy làm kinh sợ. Sáng ngày lâm trào, đức vua cho thỉnh các vị Bà la môn chuyên về đoán điềm lành dữ vào triều kiến và phán hỏi nguyên do.
Các thầy Bà la môn ấy mới tâu rằng: "Tâu đại vương, đây là điềm bất thường, có hại đến ngai vàng và hoàng thượng nữa, nếu ngài không tế thần lửa".
Cách thức tế thần lửa ấy thật là dã man. Trước hết phải tìm cho đủ một trăm giống thú đực và cái và trăm đồng nhi nam và đồng nhi nữ. Rồi đào một cái hầm thật to, đốt lửa cháy thật hực xong mới giết cả thú và người lấy máu đổ vào lửa.
Đức vua nghe lời bàn tán của chư vị Bà la môn, lấy làm kinh sợ, mới truyền cho phải lập đàn tràng để tế thần lửa. Trong khi sắp làm lễ, thì đồng nhi nam, nữ kinh sợ, la khóc, những con thú bị nhốt cũng gầm thét. Những tiếng ấy làm rung chuyển cả hoàng hung, bà hoàng hậu lấy làm lạ, mới vào hầu vua và hỏi tự sự. Đức vua mới thuật chuyện ấy cho bà nghe, bà mới tâu rằng: "Thật Hoàng thượng không thông minh chút nào cả. Một khi gần bên ta có Đấng Giác Ngộ là Thiên Nhân Sư, là vị đại trí thức, mà không hỏi, lại đi hỏi và tin các thầy Bà la môn ấy".
Đức vua tỉnh ngộ mới vào hầu Phật và hỏi về bốn tiếng lạ ấy. Đức Thế Tôn dạy rằng: "Bốn tiếng Du, Sa, Na, So ấy là của bọn ngạ quỷ, vốn là quyến thuộc của ngài, chịu đói từ mấy kiếp, đến nay biết ngài sanh làm vua, muốn kêu cầu cứu với ngài, để ngài làm phước hồi hướng phước cho chúng". Đức vua nghe qua lấy làm trong sạch, khi về đến hoàng cung, truyền thả hết người và thú sắp tế lễ. Tất cả ai ai cũng đều tán dương ân đức của hoàng hậu Mallikā.
Nhắc tích này cho thấy rằng các bậc trí thức hằng đem lợi ích cho tất cả mọi người, con người ác như các thầy Bà la môn, hằng làm cho người kinh sợ, chúng ta nên nhớ rằng không phải là người học nhiều hiểu rộng hay là người khoát ngoài một bộ áo tu mà là trí thức, chúng ta cần phải suy nghĩ và quan sát như những đoạn kinh dạy về thiện và ác để phân biệt ác và thiện.