Loại suy
( Logic học đại cương – Nguyễn Tuấn Anh)
Định nghĩa và cấu tạo của suy luận tương tự
a) Định nghĩa. Loại suy (ở đây chỉ xét dạng cơ bản và phổ biến nhất của nó là phép tương tự) là suy luận, mà nhờ nó từ sự giống (hoặc khác) nhau của các đối tượng ở một số các đặc điểm suy ra sự giống (hoặc khác) nhau của chúng ở những đặc điểm khác. Sự khác biệt chủ yếu của nó với diễn dịch và quy nạp là ở chỗ, tri thức kết luân có cùng cấp độ với tri thức tiền đề.
Đổng thời suy luân tương tự cũng gắn liền với diễn dịch và quy nạp. Một mặt, nó dựa trên những tri thức được khai thác bằng con đường diễn dịch và quy nạp. Mặt khác, nó cung cấp cho chúng chất liệu để rút ra những kết luân mới.
b) Cấu tạo của suy luận tương tự về cơ bản cũng giống như các nhóm suy luân khác, tức là cũng có tiền đề và kết luân nằm trong mối liên hệ lôgíc xác định giữa chúng. Nhưng cũng có những nét đặc biệt riêng.
Các tiền đề trong suy luân tương tự là những phán đoán về hai đối tượng có những dấu hiệu không phải là đổng nhất với nhau, mà chỉ giống nhau, được coi là như nhau. Một trong các đối tượng ở trường hợp này được gọi là hình mẫu, còn đối tượng kia là nguyên bản. Vả lại, ở hình mẫu còn có thêm những dấu hiệu mà không rõ là nguyên bản có hay không.
Kết luận là phán đoán, trong đó khẳng định có dấu hiệu ấy.
Cơ sở lôgíc của kết luân chính là mối liên hệ giữa các tiền đề — quan hệ giống nhau của chúng về nội dung phản ánh sự giống nhau khách quan của chính các đối tượng.
Cấu trúc của suy luân tương tự như sau:
S1 có các dấu hiệu P1, P2. . . Pn
S2 cổ các dấu hiêu P1, P2. . . Pn-1)
I ..... S2 cổ dấu hiệu Pn
Dễ ngộ nhận về một sự giống nhau nào đổ giữa suy luân tương tự với tam đoạn luân. Dường như ở đây cũng cổ ba thuật ngữ, nhưng không thể nổi rằng một trong chúng là thuật ngữ lớn, thuật ngữ kia là nhỏ; còn thuật ngữ giữa không phải là đổng nhất, mà chỉ giống nhau.
Cấu tạo của suy luận tương tự cũng khá giống với cấu tạo của quy nạp, vì cũng dựa cơ sở trên những phán đoán đơn nhất (mặc dù vẫn cổ thể trên những phán đoán bộ phận, hay thậm chí toàn thể). Nhưng ở kết luận lại không đề cập đến toàn bộ lớp, mà chỉ đến đặc điểm riêng của đối tượng hay nhổm đối tượng.
Các quy tắc suy luận tương tự
Phép tương tự là đúng, nếu sự giống nhau của các đối tượng ở một số dấu hiệu thực sự cổ kéo theo sự giống nhau ở các dấu hiệu khác. Còn là sai những phép tương tự mà không tương ứng với sự giống nhau thực sự của các đối tượng. Cổ ba quy tắc cơ bản:
1) Số lượng các đặc điểm giống (hoặc khác) nhau ở hai đối tượng so sánh càng nhiều, thì kết luận càng chính xác.
2) Các đặc điểm giống (hoặc khác) nhau đổ càng bản chất, thì kết luận càng chính xác hơn.
3) Mối liên hệ giữa các đặc điểm giống (hoặc khác) với đặc điểm được rút ra ở kết luận càng chặt chẽ, hữu cơ, mang tính quy luật bao nhiêu, thì kết luận cũng sẽ càng chính xác.
Không thể dùng suy luận tương tự nếu ở khách thể nghiên cứu cổ những dấu hiệu loại trừ khả năng cổ dấu hiệu cần mang đi. Không nên dùng suy luận tương tự, nếu những khác nhau là lớn quá. Đặc biệt phải rất thận trọng khi sử dụng nổ trong đời sống xã hội. Các hiện tượng xã hội, nhiều khi tương tự nhau đến ngạc nhiên, nhưng thuộc các thời đại lịch sử khác nhau, cổ thể đưa đến những kết quả khác hẳn nhau, và do vậy làm cho phép loại suy thành sai.
Các kiểu suy luận tương tự
Căn cứ vào sự giống nhau có thể chia tương tự ra một số kiểu sau.
a) Các kiểu tương tự căn cứ vào tính chất giống nhau. Lại căn cứ vào sự giống nhau về các thuộc tính của đối tượng hay về các mối quan hệ giữa chúng có thể chia ra thành hai dạng cơ bản:
b) Các kiểu tương tự theo mức giống nhau của các đối tượng. Sự giống nhau giữa các thuộc tính hay các mối quan hê của các đối tượng có thể có những mức độ khác nhau. Vì thế phép tương tự còn có các dạng khác nữa — khoa học hoặc phổ thông.
Cuối cùng cần nhấn mạnh rằng, dù có dùng dạng tương tự cụ thể nào chăng nữa, thì hiệu quả lớn nhất của nó chỉ đạt được khi kết hợp chặt chẽ với các hình thức suy luân khác, với các hình thức và phương pháp nhân thức khác.