Fori.vn – Sản phẩm tốt – giá tốt nhất
MÔ HÌNH TAM TÀI – NGŨ HÀNH
2.1. Tam tài
Tam tài là một khái niệm bộ ba, “ba phép” (tài = phép, phương pháp): Thiên-Địa-Nhân. Song, có lẽ đây là một tên gọi xuất hiện về sau dùng để gọi sự vận dụng cụ thể một quan niệm triết lí cổ xưa về cấu trúc không gian của vũ trụ dưới dạng một mô hình ba yếu tố.
Con đường đi từ âm dương đến, tam tài có lẽ đã diễn ra như sau: với lối tư duy tổng hợp và biện chứng quen thuộc, người xưa sớm nhận ra rằng các cặp âm dương tưởng chừng riêng rẽ như trời-đất, trời-người, đất-người thực ra có mối liên hệ rất chặt chẽ với nhau, tạo nên một loại mô hình hệ thống gồm ba thành tố (hình 2.3). Trong tam tài “Trời-Đất-Người” này, Trời dương, Đất âm, còn Người ở giữa (âm so với Trời, nhưng dương so với Đất).
Hình 2.3: Nguyên lí hình thành tam tài
Trời – Đất – Người chỉ là một bộ ba điển hình đại diện cho hàng loạt những bộ ba khác: trời-đất-nước (tín ngưỡng Tam phủ), cha-mẹ-con, con người – không gian – thời gian, Sơn Tinh – Thủy Tinh – Mị Nương; bộ ba vợ-chồng-em chết đi biến thành bộ ba trầu-cau-vôi, bộ ba vợ – chồng cũ – chồng mới chết đi biến thành bộ ba ông đầu rau ứng với bộ ba thần đất – thần bếp – thần chợ búa… Trên trống đồng, Trơi-Đất-Người được thể hiện bâng bộ ba Chim-Hươu-Người khắc trên ba vành từ ngoài vào trong. Trên những chiếc rìu Đông Sơn có các hình trang trí thể hiện con đường chuyến tiếp từ tư duy âm dương (cặp cá sấu – Rồng đang giao nhau) sang tư duy con số 3 – tam tài (một gia đình hươu, một gia đình người – 2 bố mẹ 1 con).
2.2. Những đặc trưng khái quát của Ngũ hành
Trong cuộc sống, người nông nghiệp tiếp xúc với đất trồng trọt, cây nuôi sống con người, nước tưới cây, lửa đuổi tro nuôi đất, sắt đá cho ta công cụ lao động nhưng làm cây cối cằn cỗi không mọc được… Từ những vật chất cụ thể và thiết thực ban đầu, ý nghĩa của chúng được phức tạp hóa dần thành các ý niệm trừu tượng, đa nghĩa kết hợp trong hai bộ tam tài “Thuỷ-Hỏa-Thổ” và “Mộc-Kim-Thổ”, trong đó có Thổ là yếu tố chung. Kết hợp chúng lại ta được một Bộ Năm với số mối quan hệ đa dạng và phong phú hơn hẳn, trong đó “Thuỷ-Hỏa” là một cặp âm dương đối lập nhau rất rõ rệt, “Mộc-kim” là cặp thứ hai, “Thổ” ở giữa điều hòa (xem hình 2.5).
Hình 2.5: Nguyên lí hình thành Bộ Năm từ 2 bộ Tam tài
Do có mức độ trừu tượng hóa cao, Ngũ hành không phải là “5 yếu tố”, mà là 5 loại vận động (hành = sự vận động); Thủy, Hỏa… không chỉ và không nhất thiết là “nước”, “lửa” mà còn là rất nhiều thứ khác. Đó là những khái niệm với nội hàm riêng biệt, những khái niệm không thể dịch được.
2.3. Hà Đồ – cơ sở của Ngũ hành
2.3.1.Hà Đồ (hình 2.6, trái) là một hệ thống gồm những nhóm châm đen hoặc trắng được sắp xếp theo những cách thức nhất định. Tên gọi “Hà Đồ” là theo truyền thuyết do người Trung Hoa đời Hán đặt ra, theo đó thì khi vua Phục Hà đi chơi ở sông, thấy có con Long Mã (= con vật tưởng tượng mình ngựa đầu rồng) nổi lên, trên lưng có bức (bức vẽ): Phục Hi theo đó mà làm ra Hà Đồ.
Những nhóm chấm-vạch ấy chính là những kí hiệu biểu thị 10 số tự nhiên từ 1 đến 10 ở thời kì chưa có chữ viết, nhưng đã xuất hiện triết lí âm dương, bởi lẽ các chấm trắng chính là các số dương (số lẻ) và các chấm đen biểu thị các số âm (số chẵn). Bức đồ này có thể chuyển sang dạng các cột số hiện đại như ở hình 2.6 (phải).
Hình 2.6: (phải) – Giải mã Hà Đồ
2.3.2. Đây là sản phẩm mang tính triết lí sâu sắc của lối tư duy tổng hợp. Trước hết, đó là sự tổng hợp giữa số học và hình học (người làm nông phải vừa tính đếm, vừa đo đạc ruộng đất): 10 con số được chia thành 5 nhóm, mỗi nhóm có một số âm (chẵn) và một dương (lẻ), gắn với một phương: bắc-nam-đông-tây và trung ương (nơi con người đứng – không có trung ương thì không thể nào xác định bắc-nam-đông-tây được).
Thứ hai, đây là sự tổng hợp cuộc đời các con số với cuộc sống (của con người: Các số nhỏ (từ 1-5) gọi là số sinh, nằm ở vòng trong; các số lớn (từ 6-10) gọi là số thành, nằm ở vòng ngoài (ngay cả ở trung ương, số 5 cũng nằm trong số 10), cũng như con người, khi mới sinh ra còn quanh quẩn trong nhà, trưởng thành lên mới đi ra ngoài xã hội.
Hà Đồ thực sự là một thứ triết lí uyên thâm về các con số: Mỗi nhóm số có một chẵn một lẻ (một âm một dương); một nhỏ một lớn (một sinh một thành). Người nông nghiệp chú trọng nhiều đến các quan hệ, cho nên đặc biệt quan tâm đến chỗ giữa – con số 5 ở chỗ giữa của chính giữa, trung tâm của trung tâm, được gọi là số “tham thiên lưỡng địa” (3 trời 2 đất = 3 dương 2 âm).
Tại sao 5 được tổ họp từ 3+2 chữ không phải tử 4+1? Không có sách nào giải thích về vấn đề này, song căn cứ vào triết lí âm dương thì có thể thấy rằng trong vũ trụ, 2-3 chính là tỉ lệ âm dương hợp ” hơn cả: Nó không quá chênh lệch tới mức mất cân đối như 1-4 (dương bị âm lấn át), cũng không cân bằng tuyệt đối (đồng nghĩa với chết), mà là dương vừa vặn nhỉnh hơn âm một tí. Dương có lớn hơn âm thì vũ trụ mới phát triển, nhưng lớn hơn ở mức vừa phải thì vũ trụ mới phát triển một cách hài hòa, vững chắc.
Chính là căn cứ vào triết lí tham thiên lưỡng địa này mà vào năm 1957, hai nhà khoa học người Mĩ gốc Trung Quốc là Dương Chấn Ninh (Đại học Princeton) và Lí Chính Đạo (Đại học Columbia) đã được nhận giải thưởng Nobel về vật lí nhờ tìm ra rằng hạt nguyên tử khi nổ làm bắn ra những tia dương và âm có độ dài theo tỉ lệ 3-2 thước đó phổ biến luật song tiến: khi bị phóng xạ, các li tử âm dương được phóng ra song song); nếu có một nguyên tử khác chặn đầu chúng thì từ tia dương lóe ra 3 tia nhỏ, còn từ đa âm chỉ lóe ra 2 tia thôi (Báo Time ngày 28-1-1957)
Vai trò của số 5 đối với nên văn hóa nông nghiệp Nam-Á lớn đến mức người Việt Nam ta có tục kính nể con số 5, kiêng con số 5 và kiêng luôn cả các cấp số cấu thành nên nó (xem ở trên): Mồng năm mười bốn, hai ba đi chơi cũng lỗ nữa là đi buôn!
2.4. Ngũ Hành theo Hà Đồ
Trong sự tồn tại và phát triển của mình, Hà Đồ đã trở thành cơ sở cho việc tạo nên Ngũ Hành. Mỗi phương – mỗi nhóm số Hà Đồ tiếp nhận một hành tương ứng theo thứ tự như sau (x. bảng 2.3):
STT
SỐ HÀ ĐỒ
PHƯƠNG
HÀNH
1
– ‘
Phương bắc
hành Thuỷ
2
– ‡
Phương nam
hành Hoả
3
ƒ – “
Phương đông
hành Mộc
4
– ‰
Phương tây
hành Kim
5
… – •
Trung ương
hành Thổ
Bảng 2.3: Tương ứng “Số Hà Đồ – Phương – Hành”
Ngũ hành xây dựng như thể chính là một mô hình 5 yêu tố về cấu trúc không gian của vũ trụ. Sự sắp xếp các hành theo phương cho thấy rõ nguồn gốc nông nghiệp của Ngũ hành: Đối với người nông nghiệp không gì quan trọng hơn đất, cho nên hành Thổ được đặt vào trung ương, cai quản bốn phương (vị trí của số tham thiên lưỡng địa).
Sau đất thì đến nước. Đối với người làm nông nghiệp, không gì quan trọng hơn đất và nước; cho nên sau đất, nước trở thành quan trọng số một (Nhất nước, nhì phân…): Hành Thủy ứng với số 1 của Hà Đồ, là khởi đầu (nguyên thuỷ, thủy chung); Thủy là âm, cho nên phải ở phương bắc; còn hành Hỏa là dương, tất sẽ ở phương nam. Còn lại cặp Mộc-Kim thì hành Mộc (dương) bởi cây cối là sự sống, xanh tốt vào buổi sáng, mùa xuân – ứng với phương đông dương tính; còn hành Kim (âm, bởi kim loại tĩnh) ứng với phương tây âm tính.
Như vậy các hành được sắp xếp theo thứ tự của Hà Đồ – đó là thứ tự Thủy – Hỏa – Mộc – Kim – Thổ. Thứ tự quen dùng “Kim- Mộc-Thuỷ-Hỏa-Thổ” là thứ tự đã bị sau này làm cho sai lạc.
Giữa các hành có quan hệ tương sinh (hành này hỗ trợ, giúp đỡ cho hành kia): quan hệ này xác định giữa từng cặp hai hành một theo trật tự thuận chiều kim đồng hồ của Ngũ hành theo Hà Đồ (hình 2.7):
Hình 2.7: Ngũ hành tương sinh theo Hà Đồ
* Thủy sinh Mộc (ví dụ: nước giúp cho cây tươi tốt);
* Mộc sinh Hỏa (ví dụ: gỗ làm nhiên liệu cho lửa cháy);
* Hỏa sinh Thổ (ví dụ: lửa đốt tro bụi làm cho đất màu mỡ);
* Thổ sinh Kim (ví dụ: trong lòng đất sinh ra kim loại);
* Kim sinh Thủy (ví dụ: kim loại lương sinh theo Hà Đồ nóng chảy trở về thể lỏng).
Ngũ hành tương sinh thực chất là sự chi tiết hóa của quan hệ âm dương chuyển hóa (Thuỷ là cực âm và Hỏa là cực dương).
Giữa các hành còn có quan hệ tương khắc (hành này hạn chế, gây trở ngại cho hành kia) theo các cặp sau:
* Thủy khắc Hỏa (ví dụ: nước dập tắt lửa);
* Hỏa khắc Kim (ví dụ: lửa nung chảy kim loại);
* Kim khắc Mộc (ví dụ: dao chặt cây);
* Mộc khắc Thổ (ví dụ: cây hút chất màu của đất);
* Thổ khắc Thủy (ví dụ: đất đắp đê ngăn nước).
Quan hệ tương khắc giữa các hành Hạ thổ được xác định theo hướng ngược chiều kim đồng hồ trên Lạc Thư – bước phát triển tiếp theo của Hà Đồ (Lạc Thư gồm các số từ 1 đến 9 xếp thành hình vuông sao cho các số dương và âm cân bằng nhau, kết quả là bất kì 3 số nào trên một đường thẳng đều cho một tổng bất biến bằng 15). Cả hai loại quan hệ tương sinh và tương khắc có thể được ghép lại, trình bày trong một hình ngôi sao lấy Ngũ hành theo Hà Đồ làm gốc và kéo hành Thổ từ trung tâm ra biên (hình 2.8): Các mũi tên theo vòng tròn thuận chiều kim đồng hồ biểu thị quan hệ Ngũ hành tương sinh, còn các mũi tên vẽ theo hình ngôi sao một nét bên trong biểu thị quan hệ Ngũ hành tương khắc.
Hình 2.8: Ngũ hành tương sinh tương khắc
Với tư cách một mô hình bộ 5 về cấu trúc không gian của vũ trụ, Ngũ hành có các ưu điểm: a) Có số lượng thành tố vừa phải (không nhiều quá, không ít quá); b) Có số lượng thành tố lẻ (bao quát được trung tâm); c) Có số lượng mối quan hệ tối đa. Về mặt toán học, người ta đã chứng minh rằng hệ thống 5 trung tâm chính là hệ thống tự điều chỉnh ưu việt nhất. Không phải ngẫu nhiên mà cơ thể con người là một hệ thống Ngũ hành (xem II- §4), bàn tay bàn chân con người cũng đều là những hệ thống Ngũ hành. Bàn tay người 5 ngón chính là sản phẩm cuối cùng của cả một quá trình tiến hóa từ động vật bậc thấp (cá với vây là 1 mái chèo), qua các loài trung gian (loài móng guốc; chim gà,…) mà đi lên.
2.5. Ứng dụng của Ngũ hành
2.5.1. Ngũ hành có ứng dụng rất rộng. Sở dĩ như vậy là vì, như đã nói, các hành trong Ngũ hành là những khái niệm vừa cụ thể vừa trừu tượng, chúng rất đa nghĩa (xem bảng 2.4).
Trong các ý nghĩa này thì về mặt văn hóa, đáng chú ý là hệ thống các màu biểu và vật biểu theo Ngũ hành. Về màu biểu thì hai màu đen, đỏ mang tính đối lập âm/dương rõ rệt nhất nên ứng với hai hành Thủy-Hỏa (hai phương bắc-nam). Hai màu xanh- trắng cũng đối lập âm/dương nhưng kém rõ rệt hơn, ứng với hai hành Mộc-Kim. Màu vàng ứng với hành Thổ ở trung ương.
STT
Lĩnh vực
THUỶ
HOẢ
MỘC
KIM
THỔ
1
Số Hà Đồ
1
2
3
4
5
2
Hành được sinh
Mộc
Thổ
Hỏa
Thủy
Kim
3
Hành bị khắc
Hỏa
Kim
Thổ
Mộc
Thủy
4
Vật chất
nước
lửa
cây
kim loại
đất
5
Phương hướng
bắc
nam
đông
tây
trung ương
6
Thời tiết (mùa)
Đông
Hạ
Xuân
Thu
khoảng giữa các mùa
7
Mùi vị
mặn
đắng
chua
cay
ngọt
8
Thế đất
ngoằn ngoèo
nhọn
dài
tròn
vuông
9
Màu biểu
đen
đỏ
xanh
trắng
vàng
10
Vật biểu
Rùa
Chim
Rồng
Hổ
Người
Bảng 2.4: Một số ứng dụng của Ngũ hành
Mang tính ước lệ hơn cả là bộ vật biểu. Đáng chú ý là trong số vật biểu cho 5 phương thì đã có 3 là những động vật tiêu biểu của vùng phương Nam sông nước – đó là Chim, Rồng và Rùa; thành ngữ Việt Nam có câu: Nhất điểu, nhì xà, tam ngư, tứ tượng.
Vật biểu cho phương chính nam là Chim. Đây là loài vật luôn quy tụ về phương nam ấm nắng. Không phải ngẫu nhiên mà người Lạc Việt tự xưng là dòng dõi họ Hồng Bàng (Hồng Bàng = một loài sếu lớn), và trên các trống đồng là cả một thế giới các loài chim, con người cũng dùng lông chim để hóa trang.
Vật biểu cho phương đông là Rồng. Đây là con vật do người Bách Việt tưởng tượng ra trên cơ sở nguyên mẫu là cá sấu và rắn (xem III-§1.2.2). Tính cách trọng tình cảm, hiếu hòa của người nông nghiệp đã biến con cá sấu nguyên mẫu ác độc thành con rồng tưởng tượng cao quý, hiền lành. Rồng còn là con vật mang đủ tính tổng hợp và linh hoạt của văn hóa nông nghiệp với các đối lập nước/lửa, nước/trời (sinh ra từ nước rồi bay lên trời và phun lửa), linh hoạt tới mức không cần có cánh mà vẫn có thể bay lên trời được.
Vật biểu cho phương tây là Hổ – con vật đại diện rất phù hợp cho văn hóa gốc du mục trọng động, trọng sức mạnh.
Vật biểu cho phương bắc là Rùa. Phương bắc xét trong hệ thống cũng thuộc vùng văn hóa gốc du mục trọng động, song lại là phương của hành Thủy: nước là cái có tầm quan trọng số một (sau đất) đối với nghề nông lúa nước, mà con rùa thì gắn liền với nước.
Vật biểu cho trung ương là Người. Con người đứng ở trung tâm cai quản muôn loài, cai quản bốn phương.
Vật biểu của hành/phương nào thì mang theo màu biểu của hành/phương ấy. Cho nên, khi xã hội có vua, mà vua thì cai quản con người, con người cai quản muôn loài, thành ra Vua mới giành lấy màu vàng (màu của hành Thổ, của Trung ương, của Con Người) làm của riêng cho mình. Vua mặc áo màu vàng là vì thế!
2.5.2. Trong truyền thống văn hóa dân gian, ta có thể gặp rất nhiều ứng dụng của Ngũ hành. Chẳng hạn, người Việt Nam trị tà ma bằng bùa Ngũ sắt (= Ngũ hành), bằng bức tranh dân gian Ngũ Hổ vẽ 5 con hổ ở 5 phương với 5 màu theo Ngũ hành (xem hình ở bìa 4) với ý nghĩa: Hổ tượng trưng cho sức mạnh, trấn trị ở khắp 5 phương, tà ma không còn lối thoát! Ở các lễ hội sử dụng những lá cờ hình vuông may hằng vải 5 màu theo Ngũ hành. Không gian vũ trụ đối với người Việt Nam không phải 4 phương mà là 5 phương theo Ngũ hành: Ngũ phương chi thần (thần 5 phương trời), Ngũ đạo chi thần (thần 5 ngả đường); không phải 8 hướng mà là 9 hướng (biến thể của 5 hướng): Lạy 9 phương lời, lạy 10 phương đất. Cũng không phải ngẫu nhiên mà 6 ngọn núi ở Non Nước (Quảng Nam được quy về 5 để gọi là Ngũ Hành Sơn. Ở lăng Trần Thủ Độ (Thái Bình) có đặt tượng hổ đá phía tây, rồng phía đông, phượng (chim) phía nam, rùa phía bắc, mộ Trần Thủ Độ ở giữa, theo đúng quy định vật biểu trong Ngũ hành.
Một điều rất đáng chú ý là trong các ứng dụng dân gian của Ngũ hành, ngoài trung ương là vị trí đặc biệt ra thì phương nam và đông (phương của văn hóa gốc nông nghiệp) thường được coi trọng hơn bắc và tây (phương của văn hóa gốc du mục): Chẳng hạn, trong truyền thuyết Năm Tào – Bắc Đẩu, trong khi thần Nam Tào giữ sổ sinh (coi sự sống) ở phương nam, bên trái Ngọc Hoàng, thì than Bắc Đẩu giữ sổ tử (coi sự chết) lại ở phương bắc, bên phải Ngọc Hoàng.
Trong khi màu đỏ (phương nam) thường được xem là màu của niềm vui và mọi sự tốt lành (đám cưới, ngày tết, việc vui mừng đấu dùng màu đỏ): màu xanh (phương đông) được xem là màu của sự sống, thì màu trắng (phương tây) là màu của chết chóc (tang ma xưa dùng màu trắng), màu đen (phương bắc) là màu tang thứ hai (đám tang vua Lê Thánh Tông 1497 quy định cho các quan trong 100 ngày mặc đồ trắng, ngoài 100 ngày mặc đồ đen đến chầu). Ở các làng quê, nghĩa địa thường đặt ở phía tây. Ở nhiều vùng dân tộc, ngay cả rừng phía tây cũng được xem là nơi ở của ma quỷ. Người Chàm coi phía bắc là nơi của người chết (nghĩa địa), phía nam của người sống, phía tây của ma quỷ, phía đông của thánh thần. Trong thuật Phong thủy, việc tìm đất gọi là tầm Long (phương đông); công cụ tìm đất là cái tróc long; đất tốt có Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ thi tay Long (phương đông) phải dài hơn tay Hổ!
2.5.3. Như đã nói, một hướng khác đi theo con đường phân đôi cặp Lưỡng nghi “Âm-Dương” thành Tứ tượng (từ 2 mùa nóng-lạnh thu được 4 mùa Xuân-Hạ-Thu-Đông; từ 2 phương chính nam-bắc-đông-tây). Rồi từ tứ tượng phân đôi tiếp mà thành Bát quái. Bát quái có 8 quẻ (Càn, Đoài, Li, Chân, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn); mỗi quẻ biểu thị bằng 3 vạch liền (= lẻ, dương) và/hoặc đứt (= chẵn, âm). Bát quái Tiên thiên (có trước), biểu tượng cho 8 hiện tượng tự nhiên: Trời-Đầm-Lửa-Sấm-Gió-Nước-Núi-Đất. Bát quái Hậu thiên (có sau), biểu tượng cho cha mẹ và 6 con trong một gia đình.
Để trừ tà ma, trong khi dân gian phương Nam sử dụng Ngũ hành (bùa ngũ sắc, tranh Ngũ hổ), thì người phương Bắc dùng Bát quái làm bùa. Ở Việt Nam, ứng dụng của Bát quái xuất hiện cùng những ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, nó thường chỉ giới hạn trong những người chịu ảnh hưởng của Nho học cùng một số tầng lớp thị dân.








Để lại một bình luận
Hãy trở thành người đầu tiên bình luận!