Khái niệm văn hoá

Khái niệm văn hoá

Khái niệm văn hoá:Văn hoá là sản phẩm do con người sáng tạo; có từ thuở bình minh của xã hội loài người. Ở phương Đông; từ văn hoá đã có trong đời sống ngôn ngữ từ rất sớm. Trong Chu Dịch; quẻ Bi đã có từ văn và từ hoá: Xem dáng vẻ con người; lấy đó mà giáo hoá thiên hạ (Quan hồ nhân văn dĩ hoá thành thiên hạ). Người sử dụng từ văn hoá sớm nhất có lẽ là Lưu Hướng (năm 77-6 TCN); thời Tây Hán với nghĩa như một phương thức giáo hoá con người- văn trị giáo hoá.

Văn hoá ở đây được dùng đối lập với vũ lực (phàm dấy việc võ là vì không phục tùng; dùng văn hoá mà không sửa đổi; sau đó mới thêm chém giết). Ở phương Tây; để chỉ đối tượng mà chúng ta nghiên cứu; người Pháp; người Nga có từ kuitura. Những chữ này lại có chung gốc Latinh là chữ cultus animi là trồng trọt tinh thần. Vậy chữ cultus là văn hoá với hai khía cạnh: trồng trọt; thính ứng với tự nhiên; khai thác tự nhiên và giáo dục đào tạo cá thể hay cộng đồng để họ không còn là con vật tự nhiên; và họ có những phẩm chất tốt đẹp.

          Tuy vậy; việc xác định và sử dụng khái niệm văn hoá không đơn giản và thay đổi theo thời gian thuật ngữ văn hoá với nghĩa “canh tác tinh thần” được sử dụng vào thế kỉ XVII- XVIII bên cạnh nghĩa gốc là quản lí; canh tác nông nghiệp.

          Vào thế kỉ XIX thuật ngữ “văn hoá” được những nhà nhân loại học phương Tây sử dụng như một danh từ chính. Những học giả này cho rằng văn hoá (văn minh) thế giới có thể phân ra từ trình độ thấp nhất đến trình độ cao nhất; và văn hoá của họ chiếm vị trí cao nhất. Bởi vì họ cho rằng bản chất văn hoá hướng về trí lực và sự vươn lên; sự phát triển tạo thành văn minh; E.B Taylo (E.B. Taylor) là đại diện của họ. Theo ông; văn hoá là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết; tín ngưỡng; nghệ thuật; đạo đức; luật pháp; phong tục; những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội.

 Ở thế kỉ XX; khái niệm “văn hoá” thay đổi theo F. Boa (F. Boas); ý nghĩa văn hoá được quy định do khung giải thích riêng chứ không phải bắt nguồn từ cứ liệu cao siêu như “trí lực”; vì thế sự khác nhau về mặt văn hoá từng dân tộc cũng không phải theo tiêu chuẩn trí lực. Đó cũng là “tương đối luận của văn hoá”. Văn hoá không xét ở mức độ thấp cao mà ở góc độ khác biệt.

L. Kroibơ (A.L. Kroeber) và C.L. Klúchôn (C. L. Kluckhohn) quan niệm văn hoá là loại hành vi rõ ràng và ám thị đã được đúc kết và truyền lại bằng biểu tượng; và nó hình thành quả độc đáo của nhân loại khác với các loại hình khác; trong đó bao gồm cả đồ tạo tác do con người làm ra.

Để lại một bình luận

Hãy trở thành người đầu tiên bình luận!

avatar
wpDiscuz
Bài liên quan
no img nhan thanh
Những tính chất và quy luật của văn hoá
Những tính chất và quy luật của văn hoáQuy luật kế thừa trong sự phát triển.          Cơ sở triết học: Quy luật này là quy luật “phủ  định của phủ định” trong triết học. Khái niệm: “Kế thừa là thừa hưởng; ...
Chuyên mụcChương I: Cơ sở lý luận về văn hóa
Sách và tư liệu
ONG ANBE XARO VÀ BẢN TUYÊN NGÔN NHÂN QUYỀN
No img
ONG ANBE XARO VÀ BẢN TUYÊN NGÔN NHÂN QUYỀNChính vì quyền con người mà hàng triệu con người đã bị ...
Ba sợi tóc vàng của quỷ
No img
Ngày xưa, ở một làng kia, có một người đàn bà nghèo sinh được một ...
Vật lý 12_Tổng ôn lý thuyết phần dao động cơ_có đa
Vật lý 12_Tổng ôn lý thuyết phần dao động cơ_có đa
Kết bạn với Nhanthanh: nhanthanh@gmail.com để được giải đáp.
Đề cương ôn tập môn Vật lý tc2-LTU
Đề cương ôn tập môn Vật lý tc2-LTU
Đề cương ôn tập môn Vật lý tc2-LTUDe cuong VLTC2
Đề thi thử toán – THPT Đặng Thúc Hứa – Nghệ An
No img
Nội dung kiến thức Hàm số Khảo sát và vẽ đồ thị hàm số bậc 3 Khảo sát và vẽ đồ thị ...